Nhiều du khách thích thú với loại hình du lịch xe trâu tại Bát Tràng
Hà Nội có tới 256 làng nghề truyền thống; trong đó gần 1/4 là những làng nghề lâu đời trên 100 năm tuổi đậm đặc các giá trị văn hoá - lịch sử. Đó là một nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, có thể khai thác ở hai hình thức: du lịch thương mại và du lịch nhân văn.
Thế nhưng, ngoại trừ hai cái tên được nhắc đến liên tục là làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc, các làng nghề khác gần như bị bỏ quên, ví như cụm làng nghề mây tre đan ở Chương Mỹ, khảm trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, nón làng Chuông, sơn mài Hạ Thái…
Khủng hoảng kinh tế đe dọa làng nghề
Trao đổi với TBKTSG Online về ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến sản xuất và sự phát triển của làng nghề, ông Nguyễn Văn Cường, Chủ nhiệm hợp tác xã Song Cường (Bát Tràng) cho biết, vào khoảng những năm 1998, 1999 Bát Tràng xuất khẩu khoảng 1.000 container/năm (container 15 tấn), hiện nay con số này chỉ còn khoảng 100 container/năm. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đã khiến khoảng 50% hộ gia đình phải ngừng sản xuất.
Khủng hoảng kinh tế khiến phần đông công nhân tại hợp tác xã Song Cường phải tạm thời nghỉ việc, hiện hợp tác xã chỉ còn 35 công nhân chính.
Riêng hợp tác xã Song Cường, những năm thành công, việc xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài thu về khoảng 800.000 đô la Mỹ/năm. Tuy nhiên, khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, việc chuyển hướng phục vụ nhu cầu gốm sứ trong nước khiến doanh thu của hợp tác xã giảm mạnh, chỉ còn khoảng 30% (đạt khoảng 1 tỉ đồng/năm).
Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ Bát Tràng, ông Lê Xuân Phổ cho biết cả làng có tất cả 600 hộ sản xuất trực tiếp và khoảng 300 hộ tham gia các hoạt động gián tiếp phục vụ cho sản xuất chính. Tuy nhiên, tới thời điểm này các hộ còn sản xuất đã giảm một nửa.
Để thích ứng với nhu cầu thị trường nội địa khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các hộ sản xuất đã chú trọng hơn đến các mẫu mã, sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như lọ hoa, bát, đĩa, chén, sản phẩm du lịch như chuông gió, vòng tay bằng gốm...
Cũng như Bát Tràng, là một trong những làng nghề được nhiều người biết đến nhưng vài năm gần đây tiếng máy dệt tại làng nghề Vạn Phúc thưa dần. Nguyên nhân chủ yếu là việc tăng giá nguyên liệu đầu vào.
Trong khi giá tơ tăng mạnh, từ 420.000 đồng/kg lên gần 700.000 đồng/kg nhưng giá vải lụa dệt thô lại chỉ tăng từ 17.000 đồng/mét tăng lên khoảng 20.000 đồng/mét. Vải satanh cũng chỉ có giá khoảng 50.000 đồng/mét dù lượng tơ và thời gian dệt loại này nhiều hơn hẳn vải lụa đã khiến 9 trong 14 máy dệt nhà chị Nguyễn Thị Hà làng Vạn Phúc ngừng hoạt động.
Hiện 3 trong 6 máy dệt (trong đó có một máy dệt hiện đại với mức đầu tư lên tới 40 triệu đồng) tại nhà ông Nguyễn Hữu Chỉnh, nguyên Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc cũng đã tạm ngưng hoạt động. Số máy dệt hiện còn hoạt động tại làng lụa Vạn phúc chỉ còn khoảng vài trăm máy, thay vì hàng nghìn máy như các năm 2002-2006.
Theo ông Chỉnh, nguyên nhân chính khiến giá tơ không ngừng tăng cao là do vùng trồng dâu nuôi tằm ở các tỉnh phía Bắc (chủ yếu ở Đan Phượng, Hoài Đức (Hà Nội), Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình) không ngừng thu hẹp. Hiện tơ nguyên liệu chủ yếu được cung cấp từ Lâm Đồng. Không những vậy, hai năm trở lại đây thời tiết diễn biến thất thường khiến cho chất lượng tơ không đồng đều, ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm vải được dệt ra.
Du lịch kết hợp sản xuất-hướng đi cho các làng nghề
Thực tế khoảng 50% số hộ sản xuất tại Bát Tràng phải ngừng lò sản xuất nhưng theo ông Phổ, đời sống của người dân nơi đây không vì thế mà kém đi, bởi thay vào việc chú trọng sản xuất thật nhiều để bán ra thị trường họ chuyển sang làm dịch vụ, buôn bán phục vụ khách du lịch.
Theo ông Nguyễn Văn Cường, hình thức kết hợp du lịch với sản xuất tại Bát Tràng hiện đang phát triển và thu hút được nhiều du khách. Bát Tràng đang đẩy mạnh hình thức kinh doanh này, đặc biệt là hướng tới khách du lịch trong nước, hiện chiếm tới 80% số du khách đến với Bát Tràng.
Nhiều chủ kinh doanh tại chợ Bát Tràng cũng cho biết, khách du lịch đến với làng nghề không chỉ mang cho họ niềm vui vì bán được nhiều hàng mà quan trọng hơn là giúp họ giới thiệu nhiều hơn về làng nghề về sản phẩm của chính dân làng mình làm ra.
Chị Nguyễn Thị Hằng, hướng dẫn viên của Hanoitourist cho biết, làng nghề nào mà người dân càng nhạy bén với thị trường, hiểu biết về tiếp thị thì càng hút khách du lịch. Đó cũng chính là bí quyết của Bát Tràng hay làng lụa Vạn Phúc. Người dân ở Bát Tràng biết đón khách vào nhà như thế nào. Họ còn “nhạy” đến mức nghĩ ra chiếc xe trâu để chở khách thong dong đi thăm thú các lò gốm.
Chợ Bát Tràng không chỉ thuần buôn bán mà còn có những gian hàng cho khách được tham gia vào các công đoạn làm gốm. Việc khách được tự nặn, tự vẽ, tự sáng tạo ra sản phẩm gốm theo ý thích và nhìn thấy sản phẩm hoàn chỉnh của mình từ lò ra khiến khách đặc biệt thích thú và cảm thấy thoả mãn với chuyến đi.
Tâm lý được tận hưởng có ảnh hưởng lớn đến việc khách quyết định có trở lại đây lần nữa hay không, chị Hằng khẳng định.
Chủ nhiệm hợp tác xã lụa Vạn Phúc- Hà Nội, ông Nguyễn Văn Hùng cho biết, mỗi năm làng lụa Vạn Phúc đón khoảng gần 100.000 lượt khách; trong đó, có 20.000 khách nước ngoài, tiêu thụ khoảng 30% sản lượng lụa Vạn Phúc bán ra hàng năm. Ông Hùng cho rằng sự liên kết và chia sẻ lợi nhuận giữa hãng lữ hành với người dân làng nghề là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì và phát triển du lịch làng nghề. Bởi chỉ khi người dân cảm thấy có lời, thì họ mới yên tâm sản xuất, giữ nghề và có động cơ tích cực để tìm hiểu cách làm du lịch, từ đó mới biết làm du lịch.
Nhiều thanh niên tại một số làng nghề rất cần được hỗ trợ đề cùng phát triển sản xuất kết hợp với làm du lịch, thay vì phải tự tìm cách phát triển
Hướng đến chuyên nghiệp: Nông dân cần được hỗ trợ
“Chưa kịp đưa máy ảnh thu lại những mái nhà cổ thì chủ một ngôi nhà cổ gắt “làm cái gì thế, suốt ngày nhòm, ngó với chụp, chụp” khiến tốp du khách chúng tôi mất hứng và cũng không có ý muốn quay trở lại làng cổ Cự Đà nữa””, một đồng nghiệp sau chuyến du lịch về làng cổ Cự Đà chia sẻ.
Thiếu kiến thức về du lịch là tình trạng chung của người dân ở các làng nghề. Người dân không hiểu biết về tiếp thị, không được học cách tiếp khách du lịch, không được hướng dẫn cách làm ra những sản phẩm hấp dẫn giá rẻ để thu hút khách. Kết quả là khách du lịch đến làng nhưng không biết phải tham quan cái gì, không hiểu gì về văn hoá cũng như tập quán sản xuất của địa chỉ tham quan là tình cảnh chung của một số làng nghề.
Hiện nay, làng nghề Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như khả năng tổ chức quản lý, trang thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng maketing, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật công nghệ còn thiếu và yếu. Thậm chí ngay cả đối với những thợ thủ công lành nghề, chất lượng sản phẩm còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách hiện đại...
Tại làng Bát Tràng, một mô hình được cho là thành công nhưng những thông tin dành cho khách du lịch như bản đồ đi bộ hay kỹ thuật sản xuất gốm sứ truyền thống vẫn chưa có. Đối với du lịch làng nghề, việc giữ gìn truyền thống, dung hoà giữa truyền thống và hiện đại là vô cùng quan trọng.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương, Viện phó Viện nghiên cứu phát triển Du lịch Việt Nam, làng nghề là một nét đặc thù của Việt Nam với sự kết hợp độc đáo cùng các lễ hội, phong tục các vùng, miền. Hiện nay, du lịch làng nghề đang là hình thức ngày càng hấp dẫn du khách, là một hướng ưu tiên trong phát triển du lịch Việt Nam bởi những giá trị to lớn mang lại. Chính vì vậy, nông dân rất cần được hỗ trợ để có thể trở thành những “hướng dẫn viên” có thể giới thiệu được những nét đặt sắc trên chính quê hương mình.