PHẦN II
CÁC GIỐNG LÚA
VIỆT NAM
XƯA
Trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An năm 1555 phần nói
về Sản vật và Phong tục, ông đã cho những nhận xét về nghề nông, cây
lúa, giống lúa và thổ nhưỡng của 2 châu Ô Lý (vùng đất từ Quảng
Bình đến một phần tỉnh Quảng Nam) như sau:
Huyện Đan Điền liền với phương Nam, cương giới bên
ngoài châu Ô. Dân lấy thóc làm giàu, nhà nông dùng trâu đạp lúa, gắng
sức nghề nông có dân Triệu Đông, Hoằng Phước, thóc Đơn Quế chất đống
như gò…
Giống là một trong 4 yếu tố chính quyết định thành
bại của việc canh tác trong ca dao đã có câu truyền tụng kinh nghiệm
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
Các giống lúa của Việt Nam thời xưa được mô tả khá
chi tiết trong các sách mà Đại Nam Nhất Thống Chí đã trích dẫn trong
phần thổ sản như: Lễ Ký Nguyệt Lệnh, Loại Dịch Bộ của Diêu Bồi
Khiêm, Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, Loại Ngữ của Lê Danh Phương, Gia
Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An Phong Thổ Ký của Bùi
Dương Lịch…Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ.
Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn từ 2 tác phẩm:
Một nghiên cứu có tính cách cá nhân là của ông Lê
Danh Phương, hai là của tập thể: Quốc Sử Quán triều Nguyễn.
Lê Danh Phương tự là Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh
1726 tại Thái Bình, cha là Lê Phú Thứ đậu tiến sĩ năm 1724 làm quan
tới chức Hình bộ thượng thư.
Lê Danh Phương đậu Giải Nguyên năm 18 tuổi, Bảng Nhãn
năm 1752, ông được sung vào đoàn sứ bộ Việt Nam qua Trung Quốc yết
kiến vua nhà Thanh năm 1761.
Ông được xem như một thần đồng và là một nhà bác
học nổi tiếng Việt Nam, chức vụ cuối cùng là thượng thư bộ Công.
Ông chết năm 1784 lúc 58 tuổi, để lại nhiều tác phẩm
nổi tiếng. Trong lời tựa của sách Loại Ngữ, ông đã nói lên kinh
nghiệm khi sọan quyển sách này, một tác phẩm gồm có 9 quyển bao gồm
Lý khí, hình tượng, Khu vũ, Điển vựng, Văn nghệ… Phẩm vật. Cuốn sách
mà chúng tôi xin trích dẫn nói về cây lúa Việt Nam xưa nằm trong quyển
Phẩm vật.
Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều
Nguyễn biên soạn gồm có 4 tập. Các giống lúa Việt Nam được các sử
thần ghi chép trong tập 1, quyển 1, phần Phủ Thừa Thiên đoạn “Loại
Cốc”.
Lê Danh Phương sau khi bàn luận đã dẫn chứng trong các
cổ thư của Trung Quốc nói đến Hoàng Đế là người đầu tiên dạy cho dân
biết hấp gạo làm cơm, nấu gạo làm cháo.
Sách Cổ Kim Chú năm 123 đời vua Hán An Đế có nhận
xét rằng: “Lúa tốt mọc ở Cửu chân (Thanh hóa), 150 gốc mà được 768
bông.
Ông còn lưu ý khí hậu vùng miền Nam: “Nửa năm có
mưa, nửa năm không mưa, từ tháng 4 đến tháng 9 mỗi ngày sau 12 giờ trưa
thì trời đổ mưa, từ tháng 10 đến tháng 3 một giọt mưa cũng không
có”.
Lê Danh Phương cho biết lúa đạo hay đồ là tên thông
dụng của lúa canh lúa nọa. Lúa canh là thứ gạo người ta thường ăn.
Lúa nọa là nếp.
Ruộng nước ta thì có 2 thứ: Ruộng mùa thu gọi là
ruộng mùa, ruộng mùa hạ gọi là ruộng Chiêm (hạ điền).
Thóc có 2 thứ: Lúa canh là lúa tẻ, lúa nọa là
nếp. Ta thường nói nôm na có Tẻ có Nếp
Lúa Canh thích hợp với ruộng Chiêm có 8 loại như :
Lúa Sài Đường: cây mềm yếu, hột lúa màu đỏ thân
dài, hai đầu nhọn, vỏ dày, hột gạo màu trắng, chín sớm, nấu cơm
dẻo.
Lúa Bồ Lộ: Cây lúa cứng mọc thẳng, hột lúa màu
trắng, thân nhỏ tròn, vỏ mỏng, hột gạo có 2 màu đỏ trắng, chín
không sớm mà cũng chẳng muộn, cơm cứng.
Lúa Thạch rất dễ sống, trồng nơi nào cũng được, cây
cao thẳng bông chia ra mấy gié, chín muộn, hột gạo trắng, rất nhiều
nhựa, mềm dẻo, giã và xay bột được.
5 giống lúa Chiêm: Chiêm Di, Dự cơm mềm dẻo
Loại Chiêm Hoàng cơm cứng, Chiêm Bảo cấy ở ruộng
thấp nhiều nước, Chiêm Hâm…
Lúa Canh thích hợp với ruộng mùa gồm có 23 giống
như:
Lúa Bát Xuân, lúa Thông gồm có: lúa Ô Canh và Sùng
Canh, gạo có 2 loại màu trắng và tím.
Lúa Bảo Thế, Từ Bồn, Bát Ải, Bát Lại, Bát Sinh,
Bát Tu, Lúa tẻ chín sớm, cây và gạo đều có mùi thơm, lúa Hiên, lúa
tam nguyệt ở Nghệ An.
Lúa Điền kê (lúa Ếch) trồng vụ chiêm, vụ mùa đều
đươc, trồng tháng 4 gặt tháng 7, hột lúa dài, hột gạo trắng, nhỏ…
có mùi thơm, vị hậu.
Lúa Mộ trồng vùng đất núi như Thái Nguyên, canh tác
bằng cách phá rừng, đốt cây lấy tro bón ruộng… trồng tháng 2, gặt
tháng 6…
Ông còn ghi chép cẩn thận chi tiết các giống lúa
Chiêm Thành, cũng như các giống lúa lai tạo của Chiêm Thành và nước
ta.
Năm 998-1022, nhà Tống sai sứ sang nước Chiêm Thành
lấy 3 vạn hộc lúa phân ra cấp cho các nơi nên mới có giống lúa Cái
Hạ Bạch, lúa này sinh ra 4 loại gọi chung là Lúa Tiên, đặc điểm của
loại lúa này là chín sớm.
Về thời gian gieo gặt, ông đã thống kê được một số
chi tiết rất đáng quí của các cây lúa Việt Nam xưa mà bất cứ nhà
khoa học nào nhất là các nhà nông nghiệp cũng phải giật mình.
Lúa Thiền Minh chỉ có 63 ngày là có thể thu hoạch;
lúa Tiễn Tử loại hột nhỏ chỉ trồng 60 ngày, có loại chín trễ 80
đến 100 ngày, phần lớn là giống của nước Chiêm Thành.
Ở Thái bình có giống lúa Tiên chỉ trồng trong 60
ngày gọi là Lúa Đà Lê Kiếm, lúa Xích Hồng tiên, Bát Nguyệt Tiên đều
là các giống ngắn ngày, Lúa Tuyết Lý Đống, lúa Lăng (Quảng Trị)
cũng là lúa 60 ngày.
Lúa Tái thục là giống lúa ngọn đã gặt rồi mà gốc
vẫn lên cây kết hột một lần nữa (lúa tái liêu - gọi là lúa gặt 2
lần).
Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi một loại
giống lúa cực ngắn ngày, đó là Lúa Câu ở vùng Thừa Thiên – Huế mà
Lê Quí Đôn cũng không biết tới. Thời gian gieo gặt chỉ có 40 ngày.
Đặc điểm của các giống lúa ngon, quí, chất lượng
tuyệt hảo gọi là lúa Cống dùng để tiến vua có 3 loại chính: lúa De
An Cựu hay còn gọi là lúa hương, lúa Minh Xuân và lúa móng chim (Vĩnh
Long).
Biểu tượng cho cây lúa Việt Nam là cây lúa tẻ (lúa
Canh) được vua Minh Mang cho khắc hình tượng vào Cao Đỉnh, trên quốc huy
cây lúa là một yếu tố chính nhưng không rõ giống lúa nào. (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_huy_Vi%E1%BB%87t_Nam)