Festival Tin tức - Sự kiện
Cây lúa Việt Nam xưa (phần 2)
04/10/2009 19:16 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Các thành phần của cây lúa tẻ. Ảnh: Internet
Biểu tượng cho cây lúa Việt Nam là cây lúa tẻ (lúa Canh) được vua Minh Mang cho khắc hình tượng vào Cao Đỉnh, trên quốc huy cây lúa là một yếu tố chính nhưng không rõ giống lúa nào.

PHẦN II

CÁC GIỐNG LÚA VIỆT NAM XƯA

Trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An năm 1555 phần nói về Sản vật và Phong tục, ông đã cho những nhận xét về nghề nông, cây lúa, giống lúa và thổ nhưỡng của 2 châu Ô Lý (vùng đất từ Quảng Bình đến một phần tỉnh Quảng Nam) như sau:

Huyện Đan Điền liền với phương Nam, cương giới bên ngoài châu Ô. Dân lấy thóc làm giàu, nhà nông dùng trâu đạp lúa, gắng sức nghề nông có dân Triệu Đông, Hoằng Phước, thóc Đơn Quế chất đống như gò…

Giống là một trong 4 yếu tố chính quyết định thành bại của việc canh tác trong ca dao đã có câu truyền tụng kinh nghiệm “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

Các giống lúa của Việt Nam thời xưa được mô tả khá chi tiết trong các sách mà Đại Nam Nhất Thống Chí đã trích dẫn trong phần thổ sản như: Lễ Ký Nguyệt Lệnh, Loại Dịch Bộ của Diêu Bồi Khiêm, Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, Loại Ngữ của Lê Danh Phương, Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An Phong Thổ Ký của Bùi Dương Lịch…Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ.

Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn từ 2 tác phẩm:

Một nghiên cứu có tính cách cá nhân là của ông Lê Danh Phương, hai là của tập thể: Quốc Sử Quán triều Nguyễn.

Lê Danh Phương tự là Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh 1726 tại Thái Bình, cha là Lê Phú Thứ đậu tiến sĩ năm 1724 làm quan tới chức Hình bộ thượng thư.

Lê Danh Phương đậu Giải Nguyên năm 18 tuổi, Bảng Nhãn năm 1752, ông được sung vào đoàn sứ bộ Việt Nam qua Trung Quốc yết kiến vua nhà Thanh năm 1761.

Ông được xem như một thần đồng và là một nhà bác học nổi tiếng Việt Nam, chức vụ cuối cùng là thượng thư bộ Công.

Ông chết năm 1784 lúc 58 tuổi, để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng. Trong lời tựa của sách Loại Ngữ, ông đã nói lên kinh nghiệm khi sọan quyển sách này, một tác phẩm gồm có 9 quyển bao gồm Lý khí, hình tượng, Khu vũ, Điển vựng, Văn nghệ… Phẩm vật. Cuốn sách mà chúng tôi xin trích dẫn nói về cây lúa Việt Nam xưa nằm trong quyển Phẩm vật.

Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn gồm có 4 tập. Các giống lúa Việt Nam được các sử thần ghi chép trong tập 1, quyển 1, phần Phủ Thừa Thiên đoạn “Loại Cốc”.

Lê Danh Phương sau khi bàn luận đã dẫn chứng trong các cổ thư của Trung Quốc nói đến Hoàng Đế là người đầu tiên dạy cho dân biết hấp gạo làm cơm, nấu gạo làm cháo.

Sách Cổ Kim Chú năm 123 đời vua Hán An Đế có nhận xét rằng: “Lúa tốt mọc ở Cửu chân (Thanh hóa), 150 gốc mà được 768 bông.

Ông còn lưu ý khí hậu vùng miền Nam: “Nửa năm có mưa, nửa năm không mưa, từ tháng 4 đến tháng 9 mỗi ngày sau 12 giờ trưa thì trời đổ mưa, từ tháng 10 đến tháng 3 một giọt mưa cũng không có”.

Lê Danh Phương cho biết lúa đạo hay đồ là tên thông dụng của lúa canh lúa nọa. Lúa canh là thứ gạo người ta thường ăn. Lúa nọa là nếp.

Ruộng nước ta thì có 2 thứ: Ruộng mùa thu gọi là ruộng mùa, ruộng mùa hạ gọi là ruộng Chiêm (hạ điền).

Thóc có 2 thứ: Lúa canh là lúa tẻ, lúa nọa là nếp. Ta thường nói nôm na có Tẻ có Nếp

Lúa Canh thích hợp với ruộng Chiêm có 8 loại như :

Lúa Sài Đường: cây mềm yếu, hột lúa màu đỏ thân dài, hai đầu nhọn, vỏ dày, hột gạo màu trắng, chín sớm, nấu cơm dẻo.

Lúa Bồ Lộ: Cây lúa cứng mọc thẳng, hột lúa màu trắng, thân nhỏ tròn, vỏ mỏng, hột gạo có 2 màu đỏ trắng, chín không sớm mà cũng chẳng muộn, cơm cứng.

Lúa Thạch rất dễ sống, trồng nơi nào cũng được, cây cao thẳng bông chia ra mấy gié, chín muộn, hột gạo trắng, rất nhiều nhựa, mềm dẻo, giã và xay bột được.

5 giống lúa Chiêm: Chiêm Di, Dự cơm mềm dẻo

Loại Chiêm Hoàng cơm cứng, Chiêm Bảo cấy ở ruộng thấp nhiều nước, Chiêm Hâm…

Lúa Canh thích hợp với ruộng mùa gồm có 23 giống như:

Lúa Bát Xuân, lúa Thông gồm có: lúa Ô Canh và Sùng Canh, gạo có 2 loại màu trắng và tím.

Lúa Bảo Thế, Từ Bồn, Bát Ải, Bát Lại, Bát Sinh, Bát Tu, Lúa tẻ chín sớm, cây và gạo đều có mùi thơm, lúa Hiên, lúa tam nguyệt ở Nghệ An.

Lúa Điền kê (lúa Ếch) trồng vụ chiêm, vụ mùa đều đươc, trồng tháng 4 gặt tháng 7, hột lúa dài, hột gạo trắng, nhỏ… có mùi thơm, vị hậu.

Lúa Mộ trồng vùng đất núi như Thái Nguyên, canh tác bằng cách phá rừng, đốt cây lấy tro bón ruộng… trồng tháng 2, gặt tháng 6…

Ông còn ghi chép cẩn thận chi tiết các giống lúa Chiêm Thành, cũng như các giống lúa lai tạo của Chiêm Thành và nước ta.

Năm 998-1022, nhà Tống sai sứ sang nước Chiêm Thành lấy 3 vạn hộc lúa phân ra cấp cho các nơi nên mới có giống lúa Cái Hạ Bạch, lúa này sinh ra 4 loại gọi chung là Lúa Tiên, đặc điểm của loại lúa này là chín sớm.

Về thời gian gieo gặt, ông đã thống kê được một số chi tiết rất đáng quí của các cây lúa Việt Nam xưa mà bất cứ nhà khoa học nào nhất là các nhà nông nghiệp cũng phải giật mình.

Lúa Thiền Minh chỉ có 63 ngày là có thể thu hoạch; lúa Tiễn Tử loại hột nhỏ chỉ trồng 60 ngày, có loại chín trễ 80 đến 100 ngày, phần lớn là giống của nước Chiêm Thành.

Ở Thái bình có giống lúa Tiên chỉ trồng trong 60 ngày gọi là Lúa Đà Lê Kiếm, lúa Xích Hồng tiên, Bát Nguyệt Tiên đều là các giống ngắn ngày, Lúa Tuyết Lý Đống, lúa Lăng (Quảng Trị) cũng là lúa 60 ngày.

Lúa Tái thục là giống lúa ngọn đã gặt rồi mà gốc vẫn lên cây kết hột một lần nữa (lúa tái liêu - gọi là lúa gặt 2 lần).

Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi một loại giống lúa cực ngắn ngày, đó là Lúa Câu ở vùng Thừa Thiên – Huế mà Lê Quí Đôn cũng không biết tới. Thời gian gieo gặt chỉ có 40 ngày.

Đặc điểm của các giống lúa ngon, quí, chất lượng tuyệt hảo gọi là lúa Cống dùng để tiến vua có 3 loại chính: lúa De An Cựu hay còn gọi là lúa hương, lúa Minh Xuân và lúa móng chim (Vĩnh Long).

Biểu tượng cho cây lúa Việt Nam là cây lúa tẻ (lúa Canh) được vua Minh Mang cho khắc hình tượng vào Cao Đỉnh, trên quốc huy cây lúa là một yếu tố chính nhưng không rõ giống lúa nào. (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_huy_Vi%E1%BB%87t_Nam)

 

 

 

Nguồn
BS Hồ Đắc Duy
www.khoahoc.net

Đất nước Việt Nam
Các tin đã đăng: