“Điều thú vị
ít người biết là khi viết nên những câu thơ gan ruột ấy, thi tướng Huỳnh
Văn Nghệ chưa một lần đặt chân đến đất Thăng Long”. ông Huỳnh Văn Nam,
Tổng Giám đốc Đài Truyền hình TPHCM, con trai cố thi tướng - Anh hùng
Lực lượng Vũ trang Nhân dân Huỳnh Văn Nghệ - mở đầu câu chuyện.
Từ trái qua: Ông Huỳnh Văn Nghệ, ông Lê Duẩn, tướng Nguyễn Bình và ông Dương Quốc Chính ở Chiến khu Đ
Ga Sài Gòn - nơi ra đời “thần thi”
Ông Nam
kể: Ba tôi sinh năm 1914 trong một gia đình công chức nghèo tại vùng
đất Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Bình Dương. Hơn 20 tuổi, ông
đậu tú tài loại ưu ở Trường Petrus Ký và được nhận vào làm việc ở văn
phòng Sở Hỏa xa Sài Gòn. Năm 1940, thực dân Pháp khánh thành tuyến xe
lửa xuyên Việt đầu tiên. Từ đó, người ta có thể đi từ Hà Nội đến Sài Gòn
với chiều dài hơn 1.700 km bởi tuyến đường duy nhất chỉ mất chưa đến 39
giờ trên những chuyến tàu tối tân với những toa tàu được thiết kế nửa
gỗ, nửa kim loại và được kéo bằng những đầu tàu hơi nước. Tuyến xe đưa
vào sử dụng chủ yếu để vận chuyển lực lượng và hàng hóa phục vụ cho công
cuộc khai phá xứ An Nam của người Pháp nên với mỗi người dân nô lệ,
việc được đặt chân lên các toa tàu để vào Nam hay ra Bắc chỉ là niềm mơ
ước.
Nhân sự kiện quan
trọng thông tuyến đường sắt Bắc - Nam, Sở Hỏa xa Sài Gòn được nhà nước
bảo hộ ưu tiên một số vé cho nhân viên đi tham quan Hà Nội bằng xe lửa.
Do số lượng ghế ngồi hạn chế nên sở phải tổ chức bốc thăm, người nào bốc
trúng vé mới được đi. Huỳnh Văn Nghệ may mắn là người duy nhất của Văn
phòng Sở Hỏa xa bốc trúng vé đi tham quan. Vậy là niềm háo hức bấy lâu
của một người con phương Nam
luôn đau đáu muốn được về thăm đất Bắc sắp thành hiện thực. Nhưng khi
Huỳnh Văn Nghệ hăm hở chuẩn bị cho chuyến đi bao nhiêu thì người bạn
cùng phòng càng buồn nhớ quê hương bấy nhiêu. Hiểu được tâm trạng và nỗi
lòng mong mỏi muốn trở lại cố hương của bạn, hai ngày trước khi lên
đường, ông Nghệ quyết định nhường lại suất vé về Bắc cho người bạn tâm
giao.
Buổi chiều tà luyến
lưu tiễn bạn, khi đoàn tàu dần khuất bóng cuối sân ga Sài Gòn, một cảm
xúc man mác buồn cứ ngập tràn tâm trí người ở lại và hình ảnh về một
chốn kinh kỳ đô hội, hình ảnh Tháp Rùa nghiêng bóng nước hồ Gươm, hình
ảnh những chùm vải chín mọng lúc lỉu trên cành và những làn điệu dân ca
quan họ mượt mà, đằm thắm... qua những câu chuyện kể của người bạn cứ
thế ùa về. Và rồi, Huỳnh Văn Nghệ đã phóng bút viết nên những câu được
nhiều người ví là “thần thi”:
Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!
Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng...
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền,
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.
Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi
Bao giờ mang kiếm trả dân ta?
(Ga Sài Gòn, 1940)
“Theo
các tác giả Nguyễn Tý, Huy Thông, Trần Xuân Tuyết và nhiều tài liệu đã
trích dẫn khác, Nhớ Bắc được sáng tác tại Chiến khu Đ (Thủ Dầu Một -
Biên Hòa) năm 1946, lúc ba tôi làm chỉ huy chiến khu ở đấy. Nhưng qua
câu chuyện kể của ba lúc sinh thời và bài viết của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
đăng trên Báo Hà Nội Mới gần đây càng khẳng định xuất xứ của bài thơ tại
sân ga Sài Gòn năm 1940 là đúng” - ông Huỳnh Văn Nam giải thích.
Tiến
sĩ Cù Huy Hà Vũ là con trai của nhà thơ Huy Cận, con nuôi của nhà thơ
Xuân Diệu, cho biết sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu có kể lại rằng ông đã
nhận được bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ từ những năm đầu kháng
chiến. Trong buổi khai mạc Tuần lễ Văn hóa ủng hộ chiến sĩ Nam Bộ do
Đoàn Văn nghệ Bắc Bộ tổ chức tại Nhà hát Lớn tối 10-10-1945, Xuân Diệu
đã đưa những vần thơ da diết toát lên từ gan ruột của một người mà ông
chưa từng gặp vào bài diễn thuyết của mình. Bài diễn thuyết này được
Nghiệp đoàn Xuất bản Bắc Bộ in thành sách tại Nhà in Xuân Thu chỉ một
ngày sau đó với nhan đề “Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam”.
Cuốn sách này cùng với bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ trở thành tài liệu gối
đầu giường của các chiến sĩ Nam tiến.
“Nghìn năm” đã hay, “trời Nam” vẫn “đắt”!
Bài
thơ in trong cuốn sách nói trên có một số từ đã được sửa so với nguyên
tác. Và theo tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, người chỉnh sửa là nhà thơ tình tài
hoa Xuân Diệu.
Câu thơ nguyên tác: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” nhưng
trong các ấn phẩm sau này đều viết: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Nghìn
năm thương nhớ đất Thăng Long...”. Và, sau khi phát hành không lâu, câu
thơ này tựa hồ một câu ca dao đã thẩm thấu như một lẽ tự nhiên vào
huyết quản người dân đất Việt.
|
“Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” - đó là tâm hồn, tư tưởng của người Việt tự ngàn đời hướng về gốc gác giống nòi... |
Ông
Nam cho biết thêm: Sinh thời, cụ Huỳnh có kể chuyện về nhiều chiến sĩ
miền Bắc vào Nam ngày ấy đã tìm gặp ông đưa bài thơ đã được chỉnh sửa
cho tác giả xem và ông có giải thích về câu thơ nguyên tác. Vấn đề này,
ông Nam cũng đã được chứng kiến trong những năm theo ba tập kết ra Bắc
vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, gia đình ông sinh
sống tại nhà số 10 Lý Nam Đế, gần trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Một
lần, một nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến gặp cụ Huỳnh trao đổi,
xin được đăng bài thơ Nhớ Bắc trên tạp chí này theo bản thảo mà nhà thơ
Xuân Diệu đã chỉnh sửa và ông cụ đã đồng ý cho đăng. Chính vì thế, câu
thơ dị bản càng ăn sâu vào tâm trí bạn đọc.
Theo
tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, “nghìn năm” so với “Trời Nam” thực là “kẻ tám
lạng, người nửa cân”. “Nghìn năm” đã có cuộc sống riêng của nó dẫu rằng
“Trời Nam” cũng rất “đắt”. Có thể khẳng định rằng “Nghìn năm thương nhớ
đất Thăng Long” vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ của bao người. “Nghìn năm”
tồn tại một cách đàng hoàng, vững chắc là bởi tính tượng trưng, độ mở
của nó cả về thời gian lẫn không gian.
Với
“Trời Nam”, người đọc có thể hiểu rằng từ khi Nguyễn Hoàng Nam tiến cho
đến bây giờ, hậu duệ của ông không lúc nào nguôi nhớ kinh đô đất Tổ,
còn với “nghìn năm” thì không chỉ cho đến hôm nay mà hàng nghìn, hàng
vạn năm sau mãi mãi nhớ về nguồn cội, như một lời thề sắt son của con
Lạc cháu Hồng. Hơn thế nữa, “Trời Nam”, dù muốn hay không thì khái niệm
những người con xa quê cũng bị bó hẹp trong một vùng đất, một không gian
nhất định. Trong khi đó, “nghìn năm” mở rộng phạm trù xa xứ đến vô cùng
đối với tất cả những ai mang trong mình dòng máu Lạc - Hồng dù ở chân
trời hay góc bể.
Tuy
nhiên, theo ông Nam, sinh thời cụ Huỳnh chia sẻ: Từ “Trời Nam” dùng ở
đây ý nghĩa rộng hơn. “Trời Nam” không phải là sự bó hẹp về không gian
mà là một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của người Nam đã được
“thiên định” như ông cha ta từng khẳng định trong Hịch tướng sĩ, Bình
Ngô đại cáo hay Nam quốc sơn hà. “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” -
đó là tâm hồn, tư tưởng của người Việt tự ngàn đời hướng về gốc gác
giống nòi... Hồn thơ thức tỉnh những mơ hồ về Tổ quốc.
Đó
là một khẳng định lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước của ông
cha ta. Thăng Long còn đó, sông núi còn đây. Một Việt Nam ngàn đời bền
vững. Tình cảm ấy vô cùng cao đẹp. Ấy là tình Bắc - Nam ruột rà để non
nước Việt trường tồn... Tố chất Huỳnh Văn Nghệ đặc trưng Nam Bộ, gân
guốc, ngang tàng, phóng khoáng nhưng thẳm sâu văn hóa, nặng ân tình là
vậy.
|
Nặng tình với Thăng Long - Hà Nội
Ông
Huỳnh Văn Nam tâm sự: “Tổ tiên, ông bà của tôi quê ở Quảng Bình - “phên
dậu” giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Ông
nội tôi người họ Hoàng theo đoàn quân Nam tiến của chúa Nguyễn Hoàng
“mang gươm đi mở cõi”. Đời ông, đời cha, đến đời tôi và con cháu sau
này, tuy cung bậc cảm xúc với Thăng Long - Hà Nội phụ thuộc vào những
hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng đều vì một cái tình chung, đều có một
niềm tự hào chung của những con dân Việt “nghìn năm thương nhớ đất Thăng
Long”. Ông nam chép tặng tôi mấy câu thơ:
Ông tôi xưa mang gươm đi mở cõi
Cha tôi làm thơ thương nhớ đất Thăng Long
Còn tôi suốt hai mùa mưa nắng
Hát mãi về em, Hà Nội trái tim hồng!
Một
nghìn năm cả dặm dài đất nước: Đông Đô - Thăng Long, Đông Đô - Hà Nội
cứ kéo dài hun hút sâu, kéo dài hun hút nhớ. Hà Nội, từ một vùng đất bãi
bồi nhỏ bé của sông Hồng đến hôm nay được mở ra ôm trọn trong lòng
nhiều hơn những tinh hoa văn hóa dân tộc. Giữa những ngày mùa thu lịch
sử này, chắc hẳn muôn triệu con tim Lạc - Hồng ở khắp muôn phương đều
đang hướng về thủ đô thân yêu của mình với niềm xúc cảm trào dâng như
tâm trạng của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ và hậu duệ của ông. |