Anh Phúc (bên phải) phối hợp với cán bộ khuyến nông địa phương kiểm tra sự sinh trưởng của lúa khảo nghiệm trên địa bàn huyện Hoài Ân. Ảnh: H.X
15 năm lội ruộng, bám đồng
Sinh năm 1969, tốt nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp 2 (nay là Đại học Nông lâm Huế) năm 1994, kỹ sư Trần Minh Phúc xin về công tác tại Trung tâm KN-KN tỉnh. Anh suy nghĩ rằng, mình sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân (quê anh ở xã Bình Thành, Tây Sơn), thấm thía được cuộc sống lao động vất vả của người nông dân, một nắng hai sương để làm ra hạt lúa, củ khoai. Vì thế, anh muốn đóng góp những kiến thức đã được học của mình vào thực tế sản xuất, góp phần tăng năng suất cây trồng, giúp bà con nông dân tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất.
Anh Phúc hiện được lãnh đạo Trung tâm KN-KN tỉnh phân công tham gia theo dõi, hướng dẫn xây dựng các mô hình KN tại 3 huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão. Sau thời gian gắn bó với vùng đất phía Bắc tỉnh, mặc dù địa bàn rộng, công việc vất vả, nhưng anh đã để lại trong lòng bà con nông dân ở đây nhiều tình cảm tốt đẹp về hình ảnh một cán bộ KN chịu thương, chịu khó, lặn lội đến từng cánh đồng, từng thôn, làng, hộ gia đình, hướng dẫn cặn kẽ cho bà con nông dân cách làm lúa lai, bắp, đậu phụng, trồng mây nếp trên vườn đồi… theo kỹ thuật mới, mang lại hiệu quả cao.
Có những làng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, đường sá đi lại khó khăn, anh phải băng rừng, lội suối cả ngày mới tiếp cận được. Nhất là vào mùa đông giá rét phải vượt qua những sườn núi cheo leo hiểm trở, lội qua những con suối mùa lũ... song khó khăn, trở ngại đều không ngăn được bước chân anh mang kỹ thuật canh tác mới đến với người nông dân.
* Cơ duyên nào đưa anh đến với công tác KN?
- Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp 2, khi biết tôi có ý định về quê làm cán bộ KN, nhiều người bạn của tôi tỏ ra không bằng lòng. Bạn bè bảo rằng về quê làm cán bộ KN suốt ngày lội ruộng, bám đồng khổ lắm. Nhưng thú thực, cái máu làm KN của tôi đã có từ hồi còn học phổ thông, do vậy ra trường là tôi xin về làm công tác KN ngay. Và rồi, nghề KN đã theo tôi từ đó cho đến nay.
* Nhiều năm gắn bó với công tác KN, anh có nhớ là mình đã xây dựng được bao nhiêu mô hình, và đã chuyển giao các tiến bộ KHKT cho bao nhiêu người?
- Không nhớ hết được đâu, nếu tính thì phải lên cả hàng trăm mô hình được xây dựng, hàng chục ngàn người được chuyển giao tiến bộ KHKT. Chỉ tính riêng trong năm 2009 này, từ các chương trình KN của Trung ương, của tỉnh thì đã có gần 30 mô hình được xây dựng, mỗi mô hình như vậy thu hút hàng chục hộ nông dân tham gia thực hiện. Đặc biệt là các mô hình về sản xuất lúa lai, bắp lai thu hút rất đông nông dân đến học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất…
3 cùng với nông dân
* Là người thường xuyên gắn bó với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn công tác, anh có bí quyết gì nhằm chuyển giao các tiến bộ KHKT mới để bà con thật dễ hiểu, dễ tiếp cận và áp dụng vào sản xuất có hiệu quả?
- So với người Kinh, trình độ nhận thức của bà con đồng bào dân tộc thiểu số có phần hạn chế hơn, nên khi chuyển giao các kiến thức về KHKT cũng phải có nghệ thuật riêng. Điều đặc biệt là khi hướng dẫn, tập huấn cho bà con trồng loại cây gì, giống gì, cách làm ra sao thì phải có mô hình sẵn; khi họ mắt thấy, tai nghe, tay sờ rồi họ mới tin mà làm theo.
Tôi còn nhớ lần đầu tiên đến với đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Vạn Xuân, xã An Hòa (An Lão), nhằm giúp bà con chuyển từ tập quán gieo khô sang làm lúa nước và đưa giống lúa lai vào sản xuất. Công việc thật khó khăn, vì mới đầu khi mình đến vận động, nhiều người dân không tin, họ cho rằng giống mới, cách làm mới không phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở địa phương (?). Không nản chí, tôi cùng với cán bộ KN địa phương kiên trì bám trụ, từng bước thí điểm xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức hội thảo đầu bờ, mời bà con đến tham dự để “mắt thấy, tai nghe”. Với kết quả mang lại khá tốt, năng suất lúa lai đạt tới hơn 75 tạ/ha, cao gấp 3-4 lần so với giống lúa địa phương, nên bà con ở đây ai cũng gật đầu bái phục, rồi tin tưởng, làm theo những hướng dẫn, khuyến cáo của mình đưa ra.
Ngoài ra, bí quyết để chuyển giao các tiến bộ KHKT cho đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ tiếp thu nhanh là phải hạn chế dùng những từ ngữ chuyên môn, mà thay vào đó là cách nói gần gũi với người dân. Mà để làm được việc đó, đòi hỏi người cán bộ KN phải am hiểu được tập quán của người dân; phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm thì bà con mới tin theo mình.
* Anh có thể cho biết một số giống lúa mới được khảo nghiệm mang lại hiệu quả, nông dân thấy “hít”?
- Trong số các giống lúa mới được đưa vào khảo nghiệm thời gian gần đây có 3 giống đã chứng tỏ được tiềm năng năng suất, chất lượng cao, người dân rất thích. Đó là các giống như: VTNA 1, MT 36, TP 5. Đây là những giống lúa trung ngày, phù hợp với đồng đất và khí hậu địa phương, cho năng suất trên 70 tạ/ha, chất lượng gạo ngon, được nông dân chấp nhận. Hiện nay, chúng tôi đang đề nghị Sở NN-PTNT đưa vào cơ cấu giống lúa sản xuất thử, nhằm chuyển giao cho nông dân.
Đo chiều dài gié lúa lai Nhị ưu 838 tại ruộng khảo nghiệm ở An Lão. Ảnh: H.X
Vẫn còn nhiều trăn trở
Trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng đang hội nhập với thế giới, đòi hỏi người cán bộ KN phải càng nỗ lực hơn nữa, ra sức tìm tòi, nghiên cứu các tiến bộ KHKT mới, các giống cây trồng cho năng suất, chất lượng cao, giúp người dân sản xuất có hiệu quả hơn. Để thực hiện được nhiệm vụ quan trọng đó, kỹ sư Trần Minh Phúc càng ý thức được trách nhiệm nặng nề của mình và các đồng nghiệp. Vấn đề anh quan tâm là làm sao cho các mô hình khảo nghiệm giống cây trồng mới, những tiến bộ KHKT do mình chuyển giao được nông dân tiếp thu và áp dụng vào sản xuất có hiệu quả…
* Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng mô hình trình diễn thì dễ vì có nguồn kinh phí hỗ trợ của cấp trên, có cán bộ KN trực tiếp theo dõi, hướng dẫn cách làm; nhưng để người dân tự thực hiện mà đạt hiệu quả cao như mô hình làm sẵn là rất khó, anh nghĩ sao về vấn đề này?
- Làm sao cho người dân nắm bắt được các tiến bộ KHKT, ứng dụng vào sản xuất mang lại năng suất, hiệu quả cao như mô hình mình làm, là một trong những vấn đề cốt lõi của công tác KN, là điều chúng tôi rất quan tâm. Do đó, trong lúc xây dựng mô hình, người cán bộ KN còn phải kiêm thêm một nhiệm vụ quan trọng khác, đó là phải tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn cụ thể và cặn kẽ cho bà con nông dân; cái chính là phải giúp họ biết cách làm, làm như thế nào, phải hết sức cụ thể để áp dụng có hiệu quả.
* Trong công việc của mình, điều gì anh cảm thấy đã hài lòng và điều gì còn băn khoăn?
- Hài lòng là nhìn lại thấy những tiến bộ KHKT do ngành KN chuyển giao đã giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, thu nhập của người nông dân ngày càng được cải thiện đáng kể. Còn băn khoăn là kinh phí cho công tác KN tuy đã có sự quan tâm đầu tư nhiều hơn của Nhà nước nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, nhiều mô hình do thiếu kinh phí nên thiếu trước, hụt sau.
Ngoài ra, điều mà chúng tôi quan tâm là tỉnh cần có chính sách định hướng, quy hoạch, phát triển nông nghiệp một cách bền vững; tăng cường công tác dự báo thị trường nông sản giúp người dân yên tâm sản xuất. Tôi băn khoăn vấn đề trên là do hiện nay sự liên kết giữa 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, Nhà nước, nhà tiêu thụ) vẫn chưa có sự gắn chặt, cho nên người nông dân vẫn còn làm theo kiểu “phong trào”, chưa bền vững…
* Xin cảm ơn anh, chúc anh tiếp tục thành công trong cuộc hành trình đưa nhiều loại giống cây trồng, nhiều tiến bộ KHKT mới đến với nông dân!