Đặc điểm giống:
- Vóc dáng: Kỳ đà thuộc lớp động vật
bò sát, hình dáng bên ngoài trông giống như con thạch sùng (thằn lằn)
nhưng to và dài hơn, có thể dài đến 2,5 - 3 m, nặng khoảng 10 kg. Đầu
hình tam giác nhọn về phía mõm. Mắt có con ngươi thẳng đứng. Có hai chân
trước và hai chân sau, mỗi chân có 5 ngón tòe rộng, mặt dưới ngón có
các nút bám để con vật dễ leo trèo. Màu sắc của con vật thay đổi theo
màu sắc của môi trường sống để ngụy trang và săn bắt mồi.
- Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Môi trường sống của kỳ đà phong phú
và đa dạng. Kỳ đà hoang dã có mặt ở hầu khắp các nước khí hậu nhiệt
đới, nhất là những vùng rừng núi và thường sống trong những gốc cây, hốc
đá, kẽ hở đất, đá… ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn. Kỳ đà
thích ẩn mình trong các hang hốc, thích ngâm mình, săn mồi nơi sông
suối giống như cá sấu. Thức ăn của kỳ đà là cóc nhái, gà vịt, tôm cá,
thịt động vật loại nhỏ, trong chăn nuôi có thể dùng phụ phẩm để giảm chi
phí.
- Sinh trưởng, phát triển và sinh sản: Kỳ đà sinh trưởng, phát triển mạnh
sau mỗi lần lột xác (lột da). Sau mỗi lần lột da, nếu chăm sóc nuôi
dưỡng tốt tốc độ tăng trưởng của kỳ đà có thể tăng lên 2 - 3 lần. Kỳ đà
có thể lột da mỗi năm một lần vào khoảng tháng 8 đến tháng 10. Kỳ đà
trưởng thành sau 18 tháng tuổi có thể dài 2,5 m, nặng 7 - 8 kg và bắt
đầu đẻ trứng. Trong tự nhiên, kỳ đà đẻ trứng mỗi năm một lứa, mỗi lứa 15
- 17 trứng và chỉ khoảng 35% trứng có khả năng nở con. Nếu chúng ta tổ
chức ấp trứng nhân tạo đảm bảo yêu cầu kỹ thuật thì tỷ lệ ấp nở có thể
đạt 80 - 90%.
Chọn giống và thả giống:
Chọn giống: Chọn những con to khỏe có
kích thước trung bình trở lên. Cách nhận biết kỳ đà đực, kỳ đà cái bằng
cách lật ngửa bụng con kỳ đà để quan sát gốc đuôi và lỗ huyệt:
- Kỳ đà đực: Gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi và có gờ, khi bóp vào gốc đuôi sẽ thấy gai giao cấu màu đỏ thẫm lòi ra ở lỗ huyệt.
- Kỳ đà cái: Đuôi thon nhỏ, lỗ huyệt nhỏ lép, khi bóp vào gốc đuôi không có gai giao cấu lòi ra.
Thả giống: Thả giống vào chuồng lưới hay chuồng xi-măng. Mỗi chuồng thả 1 con đực với 1 con cái hoặc 1 con đực với vài ba con cái.
Chuồng nuôi:
Chuồng
nuôi kỳ đà cũng giống như chuồng nuôi cá sấu, có thể là chuồng lưới hay
chuồng xi-măng, dài 3 - 4 m, rộng 2 - 3 m, cao 2 - 3 m, xung quanh tô
láng để kỳ đà không bám tường leo ra ngoài. Trong chuồng, có thể làm
hang bêtông hoặc để sẵn một số ống cống phi 0,1 - 0,2 m, dài trên 4 m,
đảm bảo môi trường thích hợp cho kỳ đà ẩn trú, nghỉ ngơi và phòng tránh
nắng nóng… có hệ thống thoát nước hợp lý khi rửa chuồng hay xịt nước tắm
cho kỳ đà. Vốn đầu tư chuồng trại nuôi kỳ đà thấp hơn nuôi cá sấu. Nếu
có điều kiện nên trồng cây hay đặt cây cảnh để tạo cảnh quan và để tránh
nắng cho kỳ đà.
Thức ăn: Thức ăn của kỳ đà là sâu bọ,
côn trùng như cào cào, châu chấu, chuồn chuồn, cánh cam, nhện, mối,
gián, ong, bướm, cóc, ếch nhái, gà vịt, chim chóc hoặc có thể tập cho kỳ
đà ăn mồi không cử động như trứng gia cầm, cua, tôm, cá hay thịt, lòng
gia súc, gia cầm… Vào lúc chiều tối thả mồi côn trùng, sâu bọ hay chuột
vào chuồng cho kỳ đà ăn. Mỗi con kỳ đà ăn khoảng 2 - 3 con chuột hay ếch
nhái… là đủ bữa cho cả ngày. Tuy nhiên, trong chuồng nên đặt sẵn máng
đựng thức ăn, nước uống cho kỳ đà ăn, uống tự do.
Trong
tự nhiên, kỳ đà là thành viên có ích cho con người tiêu diệt chuột, côn
trùng và sâu bọ phá hoại mùa màng. Nuôi kỳ đà không những không tốn
thức ăn đắt tiền mà còn tiêu diệt được chuột, côn trùng, sâu bọ phá hoại
mùa màng. Chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc nuôi dưỡng kỳ đà giống như nuôi
cá sấu. Kỳ đà vừa là nguồn thực phẩm, vừa là nguồn dược liệu quý hiếm,
có giá trị kinh tế cao, nhưng hiện nay, trong thiên nhiên loài bò sát
này đang ngày càng cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng. Kỳ đà có rất
nhiều loài, có loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Chính vì vậy, việc phát triển nghề nuôi kỳ đà tại hộ gia đình là cần thiết và góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Vốn
đầu tư để chăn nuôi kỳ đà ít và hiệu quả kinh tế cao. Thịt kỳ đà ngon
mà không gây cảm giác sợ như thịt cá sấu; mật và lưỡi kỳ đà còn là bài
thuốc quý, da kỳ đà với lượng lớn cũng có thể xuất khẩu. Hiện nay, một
số hộ dân ở các tỉnh miền Đông Nam bộ đã bắt đầu nuôi kỳ đà và cho hiệu quả rất khả quan.
Phòng bệnh:
Kỳ đà là động vật hoang dã nên sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, kỳ đà cũng thường bị một số bệnh như:
- Chấn thương cơ học: Chấn thương nhỏ thì bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn phải khâu. Da kỳ đà có khả năng tái sinh nhanh nên chóng lành.
- Viêm cơ dưới da: Dưới lớp
da nổi những mụn nước nhỏ bằng hạt ngô, hạt đậu, kỳ đà biếng ăn, không
ăn rồi chết. Dùng thuốc tím rửa chỗ sưng tấy và chích kháng sinh tổng
hợp…
- Táo bón: Dùng thuốc tẩy dạng dầu bơm vào lỗ huyệt, có khi phải dùng ngón tay móc phân cục ra. Cho ăn thức ăn nhuận tràng…
- Tiêu chảy: Thường do khẩu
phần thức ăn ta cung cấp không đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng
nên kỳ đà có thể bị tiêu chảy. Ta có thể dùng thuốc điều trị tiêu chảy
hoặc bổ sung thêm thức ăn, nước uống đắng… Để phòng bệnh tiêu chảy,
không nên sử dụng các loại thức ăn bị ôi thiu, ẩm mốc…
- Ký sinh trùng đường ruột: Kỳ đà còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán lãi cho kỳ đà.
- Ký sinh trùng ngoài da: Ve (bét) bám trên da hút máu và truyền bệnh cho kỳ đà. Dùng thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ…
Phòng
bệnh tổng hợp là biện pháp phòng bệnh tốt nhất: Chăm sóc nuôi dưỡng
tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng,
chuồng trại luôn sạch sẽ, không lầy lội, không nóng quá, lạnh quá…