1. Phòng trừ rầy nâu, rầu lưng trắng
a. Rầy nâu:
Đặc điểm hình thái:
Rầy
non tuổi 1 có màu trắng, các tuổi sau có màu vàng nâu. Rầy trưởng thành
cánh dài đẻ trứng trên các bẹ lá hoặc gân lá. Trứng xếp hình nải chuối,
mỗi ổ 5-12 quả. Rầy trưởng thành có hai loại: cánh dài và cánh ngắn.
Rầy trưởng thành cánh ngắn xuất hiện phổ biến trước lúc lúa trổ bông,
rầy cánh dài xuất hiện vào giai đoạn lúa chín và di chuyển, phát tán.
Đặc điểm sinh học, sinh thái:
Vòng đời của rầy nâu từ 25 - 28 ngày, trong điều kiện nhiệt độ 25 - 300C.
Rầy cái trưởng thành có thể đẻ 150 - 250 trứng và có tính hướng sáng mạnh.
Rầy có khả năng di cư đám đông rất xa và kháng thuốc cao.
Rầy nâu thích hợp với điều kiện khí hậu ấm nóng, ẩm độ cao, mưa nắng xen kẽ.
Đặc điểm gây hại:
Rầy
cám và rầy trưởng thành cánh dài hoặc cánh ngắn đều chích hút nhựa cây
lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số cao. Rầy nâu gia tăng mật số
nhanh và cao (bột phát) gây hại nặng cho cây lúa khi trồng lúa liên tục
trong năm, dùng giống nhiễm rầy, gieo cấy mật độ dày, bón dư thừa phân
đạm, phun thuốc trừ sâu không đúng.
Là môi giới truyền vi rút gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa.
Đặc điểm truyền bệnh:
Rầy
nâu chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh (lúa bị bệnh, lúa chét bị bệnh,
cỏ bị bệnh) tồn tại trên đồng ruộng. Rầy nâu chích hút nhựa cây lúa bị
bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá rồi mang mầm bệnh trong cơ thể để truyền sang
cho cây lúa khoẻ mạnh khi chúng đến chích hút cây lúa đó. Rầy nâu mang
mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết.
b. Rầy lưng trắng
Đặc điểm hình thái:
-
Trứng rầy lưng trắng có dạng “quả chuối tiêu” như trứng rầy nâu nhưng
nhỏ, dài và nhọn hơn. Rầy đẻ trứng thành từng ổ theo chiều dọc, chìm
trong bẹ hoặc gân chính của lá, mỗi ổ 2-7 quả.
- Rầy non mới nở có màu trắng đục, đến tuổi 3 xuất hiện các vệt vằn trên lưng.
-
Rầy trưởng thành có màu đen nâu với một dải trắng trên mảnh lưng giữa.
Cơ thể màu trắng kem, bụng màu đen. Con cái có hai dạng: cánh dài và
cánh ngắn; con đực chỉ có một dạng hình cánh dài.
Đặc điểm sinh học, sinh thái:
Vòng đời của rầy lưng trắng từ 24-28 ngày.
Rầy cái trưởng thành có thể đẻ 150-350 trứng và đẻ liên tục trong 6 ngày, rầy trưởng thành có tính hướng quang mạnh.
Cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng thích hợp với điều kiện khí hậu ấm nóng, ẩm độ cao, mưa nắng xen kẽ.
Rầy lưng trắng phân bố rộng, có khả năng du nhập và di chuyển rất cao.
Đặc điểm gây hại:
Rầy
trưởng thành và rầy non đều hút nhựa cây từ dảnh và lá lúa. Nếu rầy gây
hại vào giai đoạn lúa trỗ bông làm cho số lượng bông và chiều dài bông
giảm, hạt lúa bị lép, lửng và làm chậm quá trình chín của hạt. Rầy lưng
trắng hại nặng trên các giống lúa nhiễm rầy, lúa lai; ruộng lúa cấy dày,
bón nhiều đạm.
Rầy lưng trắng là môi giới chính truyền bệnh vi rút lùn sọc đen cho lúa.
c. Biện pháp phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng
- Sử dụng các giống lúa kháng rầy.
- Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm thời gian cách ly giữa hai vụ lúa ít nhất 20-30 ngày, không để vụ lúa chét.
- Không gieo cấy quá dày, bón cân đối NPK, tránh bón thừa phân đạm.
-
Để bảo vệ cây lúa non, sau khi sạ nên cho nước vào ruộng và duy trì mực
nước thích hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.
- Thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sự xuất hiện của rầy trên cây lúa (phải vạch gốc lúa để xem).
-
Khi phát hiện rầy nâu trên đồng ruộng với mật độ ≥ 2.000 con/m2 (giai
đoạn lúa đẻ nhánh – làm đòng) hoặc ≥ 3.000 con/m2 (giai đoạn lúa làm
đòng – trỗ) thì phải phun thuốc trừ rầy. Khi phun thuốc phải tuân thủ
theo nguyên tắc “4 đúng”: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng
cách.
2. Phòng bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen hại lúa
a. Biểu hiện của bệnh:
Bệnh vàng lùn: Màu
sắc của lá cây lúa bị bệnh chuyển từ xanh nhạt sang vàng nhạt, vàng cam
và vàng khô. Vị trí lá bị vàng: lá phía dưới vàng trước, lần lượt lên
các lá phía trên. Vết vàng từ chóp lan dần lá vào bẹ. Lá lúa bệnh có
khuynh hướng xòe ngang. Bệnh làm giảm chiều cao chồi lúa và giảm số chồi
của bụi lúa. Ruộng lúa bệnh ngả màu vàng, chiều cao cây không đồng đều.
Bệnh lùn xoắn lá: Cây
bị lùn, màu lá xanh đậm. Rìa lá bị rách và gợn sóng, dọc theo gân lá có
bướu. Chóp lá bị biến dạng, xoăn tít lại. Lúa không trổ được, bị nghẹn
đòng, hạt lép.
Bệnh lùn sọc đen: Cây lúa bị bệnh thấp lùn, lá xanh
đậm, xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá, gân lá ở mặt sau bị sưng lên, bộ rễ
phát triển kém, bị thâm đen và rất dễ nhổ. Khi bị bệnh ở giai đoạn sớm
thì cây lúa phát triển còi cọc, lụi dần và chết. Cây lúa bị bệnh vào
giai đoạn làm đòng và vươn lóng thường nảy chồi trên đốt thân và mọc
nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân xuất hiện nhiều u sáp và sọc
đen. Bị bệnh nặng, cây lúa không trổ bông được hoặc trổ bông không
thoát, hạt bị đen.

Triệu chứng cây lúa bị bệnh lùn xoắn lá
b. Môi giới truyền bệnh
- Môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá là rầy nâu.
- Môi giới chính truyền bệnh lùn sọc đen là rầy lưng trắng. Rầy nâu nhỏ có tham gia truyền bệnh nhưng hiệu quả truyền bệnh thấp.
- Các bệnh vi rút không lây lan qua hạt giống, đất, nước, không khí và qua trứng rầy.
c. Biện pháp phòng bệnh:
Các bệnh trên đều do vi rút gây ra, hiện chưa có thuốc đặc trị nên biện pháp an toàn và hiệu quả nhất là phòng bệnh, bao gồm:
- Thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng như đã nêu ở phần trên.
- Áp dụng các biện pháp canh tác đồng bộ để tạo cây lúa khỏe, nhất là giai đoạn trước trổ để gia tăng sức đề kháng của cây.
- Tiêu hủy nguồn bệnh trên đồng ruộng, cụ thể như sau:
Thường
xuyên thăm đồng và nhổ, vùi bỏ khóm lúa bệnh. Nếu ruộng lúa bị nhiễm
bệnh nặng (trên 10% số khóm bị bệnh) thì phải tiêu hủy ngay bằng cách
cày, trục cả ruộng để diệt mầm bệnh; trước khi cày vùi phải phun thuốc
trừ rầy để tránh phát tán bệnh sang ruộng khác. Nếu bị nhiễm nhẹ (rải
rác, dưới 10% số khóm bị bệnh) thì phải nhổ bỏ cây bệnh và vùi xuống
ruộng, không bỏ tràn lan trên bờ.