
Về
sau, khi con người bắt đầu biết trồng lúa thì cũng là lúc thần lúa ra
đời. Dần dà về sau, các vị thần thuộc về nông nghiệp lần lượt xuất
hiện: thần đậu, thần dâu tằm… rồi đến Thần nông- Thần nông là vị thần
gắn bó chặt chẽ với nền nông nghiệp nước ta. Thần nông được các cư dân
nông nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc bộ hình dung là một vị thần đầu đội mũ
cánh chuồn và có các động tác như trong quá trình làm mùa. Thần nông
ngồi lom khom vào đầu xuân, rồi cúi đầu xuống, và cúi rạp vào vụ gặt
mùa. Về nguồn gốc Thần nông thì truyền thuyết cho rằng: Thần nông là vị
thần cai quản phương Nam và còn có tên khác là Viêm Đế- vua xứ nóng, vị
thần này xuất hiện trong tâm thức dân gian vào thời đại đá mới, khi
người Đông Nam Á phát triển mạnh nghề trồng lúa. Thần nông là ông tổ 4
đời của Kinh Dương Vương, 5 đời của Lạc Long Quân và 6 đời của Hùng
Vương thứ nhất. Ngay
từ buổi đầu hình thành làng xã sơ khai, Thần nông đã được đem vào đình
làng thờ chung với Thành Hoàng. Trong các lễ hội đình làng ở Bắc bộ,
người ta tổ chức rất long trọng lễ hạ điền vào đầu xuân. Trong lễ hội
đó, người ta cử ra một vị bô lão có uy tín trong làng, đóng vai Thần
nông với mũ áo chỉnh tề, dẫn một số nông dân xuống đồng cày cấy mấy
hàng lúa đầu tiên để lấy lệ.
Hầu
hết các ngôi đình ở Nam bộ đều do sắc phong của nhà Nguyễn ,àm chủ yếu
là đời Tự Đức thứ năm (1852). Điều này nhằm xác lập chủ quyền của làng
xã, đất nước trước nguy cơ của giặc ngoại xâm, và điều này cũng làm cho
việc thờ tự ở đình mang tính chính thức hơn.
Hằng
năm, các ngôi đình ở Nam bộ tổ chức hai kỳ lễ lớn, đó là lễ Kỳ yên
Thượng điền và lễ Kỳ yên Hạ điền. Tuy nhiên, các ngôi đình này không
cúng đồng loạt mà trước sau một vài ngày. Định ngày cúng là do sắc vua
phong đến địa phương nào trước thì địa phương đó lấy ngày đó làm ngày
chính để cúng. Có khi lễ Kỳ yên hạ điền của làng này lại là lễ Kỳ yên
Thượng điền của làng kia. Trong các lễ kỳ yên đó, người ta đều có bày
xôi, thịt… để cúng Thần Nông - vị thần mà theo quan niệm dân gian là
trông coi lúa gạo, dạy dân cày cấy, giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa
màng bội thu.
Bàn
thờ Thần nông được đặt trước sân đình, hoặc ở một góc sân đình, để lộ
thiên, không mái che, chỉ gồm một bệ đất, có nơi người ta xây bục thờ
bằng xi măng, trên đó có ghi dòng chữ “ Nền Xã Tắc”, hoặc có nơi người
ta xây miếu thờ, trong miếu có tấm bảng thờ ghi hai chữ “Thần Nông”
bằng chữ Hán. Ở một vài nơi, do chiến tranh tàn phá, do mưa gió của
thiên nhiên nên bục thờ Thần nông không còn nữa, người ta cũng không
xây mới mà cứ để như thế cúng. Khi cúng, người ta trải chiếu ra, đặt
thức cúng lên đó rồi cúng.
Thức
cúng, ngoài hương đăng, trà quả, người ta còn cúng xôi, thịt, heo. Có
nơi cúng dê, gạo, muối. Heo hoặc dê thì cúng sống (đã làm xong), để
nguyên con, đem heo gác trên gối. Bên cạnh đó, là dĩa đồ lòng, heo,
lông, huyết, một con dao nhỏ- ngụ ý là heo còn sống, tốt và mời thần
dùng dao xẻ thịt. Đầu heo đặt quay vào nơi thờ thần.
Có
nơi người ta để cả một thúng lúa lên bục thờ, có người lấy thân cây
chuối kết làm cái cộ bên cạnh thúng lúa, ý cầu mong thần sẽ ban cho
nhiều thóc rồi dùng cái cộ này chở lúa đem về nhà.
Trên
bục còn đặt thêm một tĩn nước hay một hũ nước nhỏ và một cái gáo để
múc, tượng trưng cho thời buổi còn sơ khai. Bốn góc bục thờ Thần nông
được cặm bốn cây đèn cầy (nến) tượng trưng cho ngày của dương thế là
đêm của âm phủ, đêm của thần thánh. Trên bục còn để một thau nước và
cái khăn để chánh bái, phó bái rửa tay lau mặt khi tế lễ.
Lính
hầu vận lễ phục đứng dài hai bên bục. Mỗi bên khoảng 5 người, mang khí
cụ. Hai bên có che lọng, dưới đất có trải chiếu để tiện việc hành lễ.
Đến giờ hành lễ, học trò lễ xướng:
- Tế vị Thần Nông A
Vừa dứt thì hương nhạc cho nhạc nổi lên theo điệu đánh Bắc Cấu
- Xướng: hương quan, hương chức, viên đô tân cựu tựu vị A
- Chánh bái, phó bái, bồi bái tựu vị A
Tất cả những người trong Ban trị sự đình đứng chỉnh tề trước bàn thờ thần.
- Xướng: bổn ban nam nữ tựu vị A
- Bổn thôn nam nữ bình đẳng tựu vị A
Trai gái đều tập trung lại
- Xướng: nhạc sanh tựu vị A
Hương nhạc chuẩn bị
- Xướng: nhạc sinh khởi nhạc A
Nhạc đánh tiếp giá
- Xướng: phần hương A
Chuẩn bị dâng hương
- Xướng: nguyện hương A
Ông chánh bái quỳ, dâng hương và đọc bài nguyện
Bài nguyện trong lễ cúng Thần Nông[1]
Phần
hương nguyện tưởng thấu đến thập phương tiên cõi. Tạ thiên, tạ địa, tạ
Quân vương, Tiền Hậu hiền phục nguyện Tam hoàng Ngũ đế, Tiên Nông tạ vị
cung thỉnh Thần Nông sinh giáng hộ độ chúng sinh.
Kiến thực, ngưỡng tưởng Thần Nông vị an tế.
Lang lại tướng quân thần Hổ trừ an vật hại.
Nay, chúng con nguyện cầu đến Phước, Lộc, lai.
Nay kiết tường vọng thỉnh Bạch Vân Phi.
Lòng tưởng ngưỡng Lộc no, Bình an, Phước thọ.
A di đà phật.
Khi
đọc bài nguyện xong, học trò lễ xướng tiếp, chánh bái, phó bái lạy,
dâng hương, rót rượu, cứ thế làm theo lời xướng của học trò lễ. Đến
tuần rượu thứ ba xong là đọc văn tế. Văn tế đọc xong được đốt đi. Sau
tuần rượu thứ ba là một tuần trà. Nghi thức cúng cũng vậy. Học trò lễ
xướng, mọi người làm theo lời xướng. Cho đến khi học trò lễ xướng: “Lễ
tất A” thì cũng có nghĩa là buổi lễ cúng Thần Nông đã xong.
Trên
đây là những nghi thức thông thường của buổi lễ cúng Thần Nông
ở Nam bộ. Tuy nhiên, có thể có một vài dị biệt ở một số nơi, nhưng tựu
chung vẫn là tín ngưỡng văn hóa dân gian của người Việt nói chung,
người Nam bộ nói riêng. Và cúng Thần Nông ở phương diện nào đó cũng là
nhằm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
Ý
niệm về Thần nông không chỉ tồn tại trong tâm thức dân gian, mà trong
các vương triều phong kiến trước đây cũng rất coi trọng việc cúng Thần
nông. Khi Gia Long lên ngôi năm 1802, đến năm 1806 đã cho xây đàn Nam
Giao ở phía Nam Huế để tế trời ba năm một lần, và đàn Xã Tắc gần hoàng
thành để cúng Thần nông mỗi năm hai lần vào tháng hai và tháng tám. Gần
đó có khu tịch điền dùng cho các vị vua chúa làm lễ xuống đồng. Về việc
cày tịch điền, sử ghi như sau: “Khi cày tịch điền, vua mặc áo bào, cầm
cây sơn son thếp vàng, do quan bộ lễ dâng lên, và quan Phủ Doãn Thừa
Thiên dâng roi mây. Khi vua cày, cử đại nhạc, nhã nhạc và đoàn nhạc
sinh múa cờ vàng. Sau khi vua đã cày đi, cày lại ba đường, thì trao lại
cày và roi cho các quan Thái thường và Phủ thừa, xong lên nhà quan canh
xem cày. Hoàng tử, hoàng thân cày năm đường đi và lại, rồi đến văn võ
đại thần cày chín đường. Lễ tất, vua hồi cung và ban yến cho hoàng tử,
hoàng thân và đại thần”.
Lễ
cúng Thần nông là một lễ hội có tính truyền thống của dân tộc ta, nó
nói lên tính trọng nông của cư dân người Việt ngày xưa. Đồng thời nó
cũng phản ánh tâm lý thờ các nhiên thần trong thời buổi sơ khai của dân
tộc.
Cho
đến nay, về cơ bản, nước ta vẫn còn là một nước nông nghiệp, cho nên
việc cúng Thần nông hàng năm cũng nhằm hướng đến một ước vọng an lành -
mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Coi trọng nông nghiệp
cũng là một chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc vạch ra các
chính sách, thể chế để nền nông nghiệp nước nhà không ngừng phát triển,
nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
----------------------
[1] Bài nguyện ở đình Thới Bình- Tân An, Tp. Cần Thơ.