Những yếu tố mô tả ở Phần 1 sẽ ảnh hưởng vào sự phát triển và sinh tồn động thực vật, trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến tài nguyên và nông nghiệp của Việt Nam. Bài viết này tiên đoán tài nguyên động thực vật và nông nghiệp Việt nam trong tương lai, với giả thiết rằng con người không có hành động gì hôm nay và trong tương lai để sửa chửa các tác động của hiện tượng hâm nóng toàn cầu và các hậu quả liên hệ.
Việc gia tăng nhiệt độ và biến đổi khí hậu trong thế kỹ qua và sự gia tăng
khí CO2 và các khí nhà kiếng khác là một thực tại không ai có
thể chối cãi. Nhưng có sự tương quan giữa gia tăng khí nhà kiếng do đốt than
đá và dầu hoả và biến đổi khí hậu hay không thì đang còn tranh luận, vì chưa
chứng minh được trong đoản kỳ, nên vẫn còn là giả thuyết, nhưng giả thuyết
có phần thuyết phục. Các nước Âu Châu, nhất là Anh quốc, đã áp dụng nhiều
biện pháp, kể cả biện pháp chế tài qua thuế vụ để giảm thiểu việc thải hồi
khí nhà kiếng vào khí quyển. Trong lúc đó, một số các công ty dầu hoả, khí
đốt Hoa Kỳ và một số chính trị gia Hoa Kỳ cũng đưa nhiều thuyết phục cho
rằng việc đốt than đá và dầu hoả hiện nay không có góp phần vào việc biến
đổi khí hậu như các khoa học gia nghĩ. Điều chắc chắn rằng hành tinh chúng
ta đang có khuynh hướng gia tăng nhiệt độ và gia tăng khí CO2 .
Các mô hình toán học tiên đoán rằng khi lượng CO2 tăng gấp đôi,
từ 350 ppm hiện nay lên 700 ppm trong tương lai, nhiệt độ sẽ gia tăng thêm 1°C.
Trong điều kiện môi sinh mới đó (700 ppm CO2 , nhiệt độ tăng thêm
1°C), thực vật và động vật sẽ phản ứng như thế nào?
Ảnh hưởng vào lục hoá
Trước nhất, thực vật là đầu nguồn của dây-xích-thực-phẩm (food chain). Thực
vật sống nhờ ánh sáng, khí CO2 và nước qua hiện tượng lục hoá
(photosynthesis) để tạo chất bột (carbohydrate), rồi từ đó các phản ứng dây
chuyền khác biến đổi thành chất đạm và chất béo, căn bản cho sự sống. Hiện
tượng lục hoá tối đa ở một nhiệt độ tối hảo, lục hoá giảm dần khi nhiệt độ
giảm hay tăng hơn nhiệt độ này, và lục hoá không xảy ra ở nhiệt độ tối thiểu
hay nhiệt độ tối đa. Các nhiệt độ này thay đổi tuỳ loại cây thích ứng của
mỗi vùng khí hậu. Đại khái, nhiệt độ tối hảo cho cây vùng ôn đới khoảng
20-25°C, vùng nhiệt đới khoảng 25-32°C.
Những thay đổi về cường độ và thời gian có nắng (như nhiều mây mù), thiếu
nước (do khô hạn), gia tăng lượng khí CO2 và nhiệt độ trong
tương lai sẽ ảnh hưởng tới việc tạo chất khô của toàn cây và sản phẩm thu
hoạch (như hạt, thân hay củ).
Gia tăng nồng độ CO2 từ nồng độ hiện tại (350 ppm) đều làm gia
tăng lục hoá cho tới lượng bão hoà. Tăng CO2 làm khí khổng
(stomata) đóng lại, giảm thoát hơi nước, nên cây sử dụng nước hiệu quả hơn.
Song song với hiện tượng lục hoá chỉ xảy ra khi có ánh nắng, hiện tượng hô
hấp xảy ra cả ban ngày lẩn ban đêm, đốt một phần chất bột do lục hoá tạo
thành, thả CO2 lại vào không khí. Gia tăng nhiệt độ và cường độ
ánh sáng làm gia tăng lục hoá, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng hô hấp –
quang-hô-hấp (photorespiration). Như vậy, thực vật chế tạo chất bột thật sự
để làm chất khô chính là hiệu số giữa lục hoá và hô hấp. Năng
suất lục hoá
còn tuỳ thuộc loại cây. Trên phương diện lục hoá, thực vật chia làm 3 nhóm,
nhóm thực vật C3, C4 và CAM.
Ở nhóm lục hoá C3, khí khổng mở vào ban ngày, hấp thụ CO2
và đưa vào chu trình Calvin với sản phẩm 3-C (3-phosphoglycerate), nhờ
enzyme Rubisco. 95% thực vật trên thế giới thuộc nhóm lục hoá C3, đặc biệt
chiếm đa số ở thực vật thích ứng vùng ôn đới, hay thực vật thích ứng cường
độ ánh sáng yếu. Khi gia tăng cường độ ánh sáng, lục hoá nhóm C3 gia tăng,
đồng thời hiện tượng quang-hô-hấp gia tăng 1.5 đến 3.5 nhiều hơn hô hấp bình
thường trong bóng tối, như vậy làm mất đi khoảng 20% CO2 cố định
bởi chu trình Calvin. Tiêu biểu nhóm thực vật C3 là đa số thực vật ôn đới,
như các ngủ cốc ôn đới (như lúa mì, lúa mạch), đậu nành, cỏ dại, v.v. Cây ăn
trái, cây rừng, lúa (Oryza sativa), cây cho củ, v.v. của vùng ôn đới và
nhiệt đới thuộc nhóm C3. Thực vật nhóm C3 hưởng lợi nhiều nhất khi gấp đôi
lượng CO2 và tăng 1OC, nhất là thực vật thích ứng
vùng ôn đới, năng suất chất khô toàn cây có thể gia tăng 20-30% so với lượng
CO2 hiện nay.
Ở nhóm lục hoá C4, khí khổng mở vào ban ngày, hấp thụ CO2 và đưa
vào chu trình 4-C, nhờ enzyme phosphoenolpyruvate (PEP) carboxylase đưa trực
tiếp và nhanh chóng CO2 vào chu trình rubisco để lục hoá tại
nhóm tế bào có kiến trúc đặc biệt gọi là “Kiến trúc Kranz”. Trong điều kiện
CO2 hiện nay (350 ppm), ở ánh sáng mạnh và nhiệt độ cao, nhóm C4
có lục hoá và sử dụng nước hữu hiệu hơn nhóm C3. Ở cường độ ánh sáng cao,
quang-hô-hấp trở nên không đáng kể. Như vậy, năng suất chất khô (tức hiệu số
giữa lục hoá và hô hấp kể cả quang-hô-hấp) của thực vật C4 cao hơn C3 ở
cường độ ánh sáng cao. Nhưng bởi vì nhiệt độ tối hảo của lục hoá thấp hơn
nhiệt độ tối hảo của hô hấp, nên khi gia tăng nhiệt độ, chất bột sẽ bị mất
nhiều hơn bởi hô hấp. Khi gia tăng gấp đôi CO2 và tăng 1°C,
lục hoá nhóm C4 không gia tăng nhiều bằng nhóm C3, nhất là loài thích ứng
vùng nhiệt đới. Lục hoá nhóm C4 chỉ gia tăng 5-10% trong điều kiện này. Tóm
lại, thực vật C3 thích ứng cho môi trường có cường độ ánh sáng thấp (chẳng
hạn như loại cây mọc chen chúc như cỏ, lúa, cây mọc dưới rừng) và nhiệt độ
lạnh (vùng ôn đới), ngược lại thực vật C4 thích ứng nơi có ánh sáng mạnh
(cây mọc nơi lộ thiên) và khí hậu nóng (nhiệt đới). Khoảng 1% thực vật thuộc
nhóm C4, gồm khoảng trên 1,000 loài (species) của khoảng 19 họ (family), của
cả đơn-tử-diệp và song-tử-diệp, tiêu biểu là mía, bắp, sorghum, đa số ở vùng
nhiệt đới. Loài tảo xanh (blue alga) cũng thuộc loại C4. Trong cùng một họ
(như họ Leguminosae), hay cùng một giống (genus) (như Atriplex), hay cùng
một loài (species) có dòng thuộc C3, có dòng thuộc C4. Hay ngay cả trên một
cây, có cả 2 loại C3 và C4, như bắp (Zea), Mollugo, Moricandia, Flaveria,
v.v., khi cây còn nhỏ thì lục hoá C3, khi lớn thì lục hoá C4.
Ở nhóm lục hoá CAM (Crassulacean Acid Metabolism), khí khổng đóng vào ban
ngày, hay khi có nhiệt độ cao (để ngăn chận thoát hơi nước), và mở vào ban
đêm khi có nhiệt độ mát, hấp thụ CO2 rồi biến thành dạng acid và
tồn trữ dưới dạng malate trong không bào (vacuole). Ngày hôm sau, khi có ánh
sáng, acid này nhả CO2 và sử dụng cho lục hoá như nhóm C3 trong
khi khí khổng vẫn còn đóng. Nhóm thực vật lục hoá CAM chiếm khoảng 5%, gồm
khoảng trên 1,000 loài, tập trung khoảng 17 họ, thích ứng vùng sa mạc, hay
vùng khô hạn, như các họ Crassulaceae, Cactaceae, Bromeliaceae, Orchidaceae,
một số rong, rêu mọc trên thượng tầng cây cối trong rừng. Tiêu biểu là khóm
(pineapple) và xương rồng (cactus). Nhiều loại cây có cả C3 và CAM trên cùng
một cây. Chẳng hạn, Mesemryanthemum crystallinum có C3 và CAM, bình thường
hoạt động với C3, nhưng khi gặp nước mặn thì chuyển qua CAM. Chỉ Portulaca
oleracea là loài cây duy nhất có C4 và CAM trên cùng một cây, và tuỳ theo
môi trường mà C4 hay CAM hoạt đông. Thực vật C4 có lợi thế trong môi trường
có cường độ ánh sáng cao, thực vật CAM có lợi thế vừa ở nhiệt độ cao, vừa ẩm
độ không khí thấp (khô hạn) và đất nhiểm mặn. Thực vật nhóm CAM sẽ hưởng lợi
khi gia tăng CO2 và nhiệt độ ngay cả trong điều kiện có hạn hán
trong môi trường tương lai.
Ảnh hưởng vào năng suất thâu hoạch
Sản phẩm thâu hoạch có thể là toàn cây, như cây rừng hay cỏ cho gia súc; hạt
như ngủ cốc; hay củ và rễ như khoai; trái như trái cây; hay một phần của cơ
quan tăng trưởng như mủ (cao su), dầu, vỏ, v.v. Trong phần này, chỉ nói ảnh
hưởng của việc gia tăng gấp đôi CO2 và tăng 1°C vào
năng suất thâu hoạch, không bàn đến các yếu tố hạn hán, lụt lội, mưa nắng
bất thường, sâu bọ, bệnh tật, v.v.
Ảnh hưởng xấu của gia tăng nhiệt độ lên thực vật vùng ôn đới trầm trọng hơn
vùng nghiệt đới. Một số cây hoa màu vùng ôn đới, như các giống
lúa-mì-mùa-đông (winter wheat) cần nhiệt độ lạnh vài ba tháng của mùa đông
mới ra hoa qua hiện tượng đông hàn (vernalization). Tuy nhiên, hiện tượng
cần lạnh này để ra hoa có thể khắc phục được bằng đông hàn nhân tạo ở hạt
vừa nẩy mầm hay cây con.
Gia tăng nhiệt độ có ảnh hưởng xấu nhiều lên cây ăn trái vùng ôn đới. Cây ăn
trái của vùng ôn đới cần có một tổng số giờ lạnh (chilling temperatures) tối
thiểu mới có thể ra nụ hoa. Gia tăng nhiệt độ trong mùa đông, tổng số giờ
lạnh giảm sẽ làm cây ôn đới không ra hoa hay ra hoa ít hơn. Ngoài ra, màu
trái táo (apple) sẽ đỏ hồng đẹp nếu trái phát triển ở 17-20°C,
nếu nhiệt độ gia tăng trên nhiệt độ này, màu đỏ hồng sẽ biến mất, và nếu
trên 25°C thì trái sẽ xanh dờn, không còn giá trị thương mãi.
Ngược lại, ở vùng nhiệt đới, yếu tố thiếu nước (water stress) trong mùa khô
hạn kích động cây ăn trái đa niên (và các loại cây lớn khác như cây rừng,
v.v.) ra hoa nhiều, và sau đó kết trái nhiều nhờ đầy đủ nước trong đầu mùa
mưa. Vì vậy, vùng có ảnh hưởng gió mùa, có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, như
Việt Nam, sẽ hưởng lợi trong tương lai. Chẳng hạn, cam quít cần 4-5 tuần lễ
khô hạn tối thiểu trước mùa mưa mới có thật nhiều hoa. Ở chôm chôm, nhiệt độ
khoảng 20-23°C đồng thời với khô hạn sẽ kích động việc ra hoa
nhiều. Cũng vậy, bơ (avocado), nhãn, xoài, trái vải hoặc cần nhiệt độ mát,
hoặc khô hạn, hay phối hợp cả hai yếu tố này, để có hoa nhiều.
Cây rừng, cao su, dừa, dừa dầu (oil palm), ca cao, tiêu, điều (cashew) –
thuộc nhóm C3- sẽ hưởng lợi nhiều khi gấp đôi lượng CO2 và tăng
1°C qua gia tăng lục hoá.
Trà và cà phê vẫn có năng suất cao nhưng phẩm
chất có thể bị giảm vì gia tăng nhiệt độ và hạn hán kéo dài trong mùa sắp
thâu hoạch. Diện tích canh tác có thể bị hạn chế, vì cần trồng ở cao độ lớn
hơn hiện nay, nhất là lọai cà phê arabica. Nhiệt độ tối hảo cho lục hoá ở cà
phê arabica khoảng 20-24°C, quá 24°C lục hoá giảm dần
và không xảy ra ở 34°C. Chỉ cần trải qua nhiệt độ 30°C
trong nhiều ngày cũng đủ làm làm lá cà phê vàng vọt và cây bị mất sức. Nụ
hoa cà phê được kích động bởi mùa đông mát mẻ và khô hạn, và nụ hoa trải qua
hưu miên cho tới lúc có mưa đầu mùa khi lá cà phê mới mọc rộ. Nếu mưa xảy ra
trong mùa đông (không có thiếu nước, cà phê ra hoa lai rai quanh năm làm
giảm năng suất, khó thâu hoạch và phẩm chất kém.
Mía, thuộc nhóm C4, vẫn hưởng lợi trong việc gia tăng năng suất thân cây và
độ đường cao. Bắp và sorghum, cũng C4, vẫn còn có lợi khi tăng gấp đôi CO2
và 1OC, nhất là sorghum sẽ có vị trí quan trọng hơn vì chịu đựng
khô hạn và sử dụng nước hữu hiệu hơn trong tương lai.
Lúa thuộc loại C3 cho năng suất toàn cây cao qua gia tăng lục hoá, nhưng
năng suất hạt thấp hơn vì nhiệt độ cao làm chỉ số thâu hoạch (harvest index)
giảm, lúa cho nhiều rơm rạ hơn hạt. Ngoài ra, nhiệt độ gia tăng 1°C
đủ làm rút ngắn chu kỳ sinh trưởng, nhất là thời gian từ trổ đến chín ngắn
hơn, lá cờ chết sớm hơn, hậu quả là chất bột sản xuất ít hơn, và chuyển đến
hột ít hơn, vì vậy hột lép nhiều và trọng lượng hạt nhỏ hơn. Chẳng hạn, ở
giống lúa IR36 chỉ cần tăng nhiệt độ từ 28°C lên 29°C,
lúa trổ bông sớm hơn 5 ngày, và thời gian từ trỗ đến chín ngắn hơn 2 ngày.
Nếu canh tác trong điều kiện lý tưởng về nước và phân bón đầy đủ, năng suất
có thể cao, nhưng trong lề lối canh tác thông thường hiện nay, năng suất có
thể giảm 10% như IRRI tường trình. Thí nghiệm ở Mả Lai tiên đoán là năng
suất lúa có thể giảm tới 30% trong tương lai.
Đậu nành, ở cả C3 và C4, sẽ gia tăng năng suất trong môi trường mới. Bởi vì
đậu nành đã được tuyển chọn từ lâu đời để thích ứng với nhiều loại khí hậu,
trải dài nhiều vĩ tuyến, từ khí hậu lạnh đến nóng, như sự phân bố giống đậu
nành ở Hoa Kỳ, nên không có vấn đề gì cho VN trong tương lai, khi nhiệt độ
chỉ gia tăng một vài độ.
Ở các loài đậu khác trong họ Đậu, có cả C3 và C4, nhóm C3 gia tăng năng suất
nhiều hơn khi gia tăng CO2 , và giống đậu hàng niên hưởng lợi gia
tăng CO2 hơn đậu đa niên.
Các loại cây cho củ (như khoai mì, khoai lang) cũng hưởng lợi gia tăng năng
suất củ nhờ hâm nóng toàn cầu, bởi vì tỉ lệ rễ/thân gia tăng khi gia tăng CO2
.
Cỏ hoà bảng (C3 và C4, tuỳ loài) và đậu cho gia súc (forage legumes) cũng
hưởng lợi trong môi trường mới.
Ảnh hưởng vào cỏ dại, côn trùng và bệnh động thưc vật.
Cỏ dại đa số thuộc nhóm lục-hoá-C3, nên sẽ phát triển mạnh trong tương lai,
khi nhiệt độ tăng thêm 1OC và CO2 tăng gấp đôi. Xâm
nhập cỏ dại từ một nơi khác (invasive alien weed) sẽ trầm trọng trong tương
lai. Ở Ấn độ cho thấy trong thời gian 10 năm mưa nhiều và thường xuyên lụt
lội 1991-2000, cỏ dại Leptochloa chinensis và Marsilea quadrifolia xâm nhập
ruộng lúa ở châu thổ sông Cauvery. Trên vùng đất cao ráo, không bị ngập
nước, nhiệt độ quá 35°C thì cỏ Trianthema portulacastrum của Phi Châu nhiệt
đới nẩy mầm và tăng trưởng mãnh liệt lấn áp cây hoa màu ở Ấn Độ.
Động vật có cơ thể nhỏ dễ thích ứng với thay đổi nhiệt độ hơn động vật lớn.
Chỉ gia tăng 1OC, đủ làm rút ngắn chu kỳ sinh trưởng, gia tăng
mức sinh nở và gia tăng dân số tập đoàn nhanh chóng, là mối đe doạ vào nông
nghiệp, sức khoẻ con người và gia súc. Bọ xít xanh (Nezara viridula) là côn
trùng rau cải của vùng nhiệt đới, hàng năm theo rau cải nhập cảng vào nước
Anh và được theo dõi liên tục từ 50 năm nay, được tường trình là không thể
sinh sôi nẩy nở ở Anh vì không sống nổi mùa đông giá lạnh. Tuy nhiên trong
các năm gần đây bọ xít xanh đã thấy xuất hiện và sinh sôi tại Anh, vì mùa
đông trong 10 năm qua ấm áp hơn mùa đông của 5 thập niên trước. Ngay ở vùng
nhiệt đới, các tường trình cho biết côn trùng sinh sôi nẩy nở nhanh hơn ở
nhiệt độ nóng hơn chỉ một vài độ, vì chu kỳ sinh nở và phát triển rút ngắn
hơn. Đặc biệt rầy nâu phá lúa sẽ mãnh liệt hơn và nhiều dòng kháng thuốc có
cơ hội bột phát hơn. Dịch rầy thừơng xảy vào mùa hè, nhưng trong tương lai
có thể xảy vào mùa đông khi nhiệt độ và ẩm độ gia tăng trong những tháng mùa
đông. Nạn cào cào, châu chấu cũng trở nên trầm trọng hơn. Ở Phi Châu cào cào
châu chấu sinh sản rất nhanh vào những năm hạn hán bất thường
Bệnh sốt rét (malaria) do muổi sốt rét Anopheles, bệnh West Nile do muổi
Culex pipens phát triển trong nước ao tù cũng sẽ hoành hành mãnh liệt hơn,
đặc biệt nguy hiểm với các dòng muổi kháng thuốc. Ở Hoa Kỳ, tường trình là
mối mọt phát triển mạnh hơn xưa vì mùa đông ấm hơn, đe doạ các công trình
xây dựng bằng gổ.
Cơ quan Y tế Quốc tế (WHO) cho biết mỗi năm có khoảng 160,000 dân Đông Dương
bị chết do nhiệt độ gia tăng bất thường, do thiếu dinh dưỡng gây bởi hạn
hán, sốt rét, bão lụt, và sẽ gia tăng gấp đôi vào 2020.
Ảnh hưởng vào sản xuất nông nghiệp
Nghiên cứu ở Thái Lan cho biết năng suất lúa thâu hoạch/ha có thể gia tăng
tới 20% trong môi trường mới do hâm nóng toàn cầu với điều kiện là sẽ chi
phí rất cao cho phân bón, thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ, tưới nước,
v.v. Tuy nhiên, trên địa bàn rộng lớn, như Đồng bằng sông Cửu Long, tổng sản
lượng sẽ bị giảm trong tương lai do thời tiết bất thường, hạn hán, lụt lội,
đất nhiểm mặn, sâu bọ, v.v. sẽ trầm trọng hơn ngày nay.
Việc gia tăng 1°C một cách từ từ không có ảnh hưởng gì vào nông
nghiệp, vì thực vật và động vật có khả năng thích ứng. Tuy nhiên nếu nhiệt
độ gia tăng đột ngột khi có sóng nhiệt (heat wave) chỉ trong vài ngày sẽ có
ảnh hưởng xấu trầm trọng vào năng suất. Những nghiên cứu ở Đại học Reading
(Anh quốc) và Đan Mạch cho biết gia tăng nhiệt độ chỉ vài độ trên bình
thường trong vài ba ngày vào thời kỳ ra hoa, thụ phấn ở lúa, lúa mì, đậu
phộng và đậu nành làm giảm năng suất rất trầm trọng.
Tuy nhiên, ở các vùng cao cực bắc VN, hiện nay không trồng được vụ lúa đông
xuân vì giá lạnh, thì có thể canh tác lúa và hoa màu khác trong vụ đông xuân
trong tương lai.
Ảnh hưởng vào đa-dạng-sinh-học (bio-diversity).
Phiêu-sinh-thực-vật (phytoplankton) là đầu nguồn của dây-xích-thực-phẩm. Các
nghiên cứu mới đây về hiện tượng El Nino, hiện tượng gia tăng nhiệt độ nước
biển ở Thái Bình Dương theo định kỳ, cho thấy hể những năm nào nhiệt độ nước
Thái Bình Dương ấm lên thì số lượng phiêu-sinh-thực-vật giảm rõ rệt, tiếp
theo là giảm sút phiêu-sinh-đông-vật (zooplankton), rồi tôm, cá, động vật
biển khác và chim biển.
Sự suy giảm san hô trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, phần đông chỉ đổ thừa
cho môi sinh bị ô nhiểm và khai thác quá mức bởi con người. Tuy nhiên, hiện
tượng hâm nóng toàn cầu làm gia tăng nhiệt độ nước biển cũng góp phần quan
trọng. Chẳng hạn, san hô vùng Florida vốn được bão tồn rất kỹ, và được
nghiên cứu từ lâu đời, cho thấy hiện tượng san hô tự huỷ diệt vẫn xảy ra kể
từ khi nhiệt độ nước biển ở vùng Keys gia tăng đáng kể từ thập niên 1980s,
là thập niên nóng nhất của thế kỹ ở vùng này.
Thay đổi thuỷ văn các dòng sông, nước biển dâng cao, và nước mặn xâm nhập
nhiều trong tương lai sẽ ảnh hưởng lên động thực vật của vùng duyên hải Viêt
Nam. Mặc dầu Nam Phần không bị mất đất nhiều do nước biển dâng cao, nhờ sông
Cửu Long mang nhiều phù sa hơn trước (do xoi mòn nhiều ở thượng du, Lào và
Cao Miên) bồi đắp, nhưng cảnh quan rừng-ngập-mặn sẽ biến đổi. Rừng Đước
(Rhizophora), Mấm (Avicennia marina), Bần (Sonneratia alba) và các loài
cây-chịu-nước-mặn giỏi như Bruguiera, Ceriops và Kandelia sẽ tươi tốt hơn
(nhóm C3), và rừng lấn ra biển. Ngược lại rừng Tràm (Melaleuca) hiện tại, vì
không đủ 5-6 tháng ngập nước ngọt dưới 1.5 m để phát triển và sinh tồn, sẽ
bị tiêu diệt, nếu mùa khô hạn kéo dài thêm 2 tháng và nhiểm mặn gia tăng, và
rừng tràm có khuynh hướng phát triển vào phía nội địa (nhưng sẽ bị con người
can thiệp để giữ đất canh tác), chứ không lấn ra phía biển như xưa nay. Cây
Bần nước ngọt (Sonneratia caseolaris) và Dừa Nước (Nypa fruticans) cũng sẽ
bị chận đứng, vì cần sống trong nước ngọt một thời gian, sẽ phát triển ngược
dòng sông, và như vậy bờ sông vùng gần biển sẽ bị xói lở nhiều hơn trong
tương lai.
Cá nước ngọt trên địa phận Việt Nam sẽ suy giảm, vì diện tích đồng bằng và
dòng sông nhiểm mặn gia tăng. Ngược lại, cá sống ở nước-nhiểm-mặn (nước lợ)
sẽ gia tăng. Chẳng hạn cá Cháy trước đây chỉ thấy xuất hiện trong một hai
tuần sau Tết âm lịch ở Vùng Trà Ôn (Vĩnh Long), là biên giới của nước lợ,
trong tương lai có thể khai thác nhiều tuần lễ hơn ở vùng gần Cần Thơ. Diện
tích nuôi tôm, sò, và hải sản khác sẽ gia tăng trong tương lai, ngược lại
diện tích nuôi-cá-bè trên Cửu Long sẽ hị hạn chế.
Rừng trên đất liền vùng thấp (lowland forests) sẽ tươi tốt hơn, vì nhờ lục
hoá mạnh và có nước thuỷ cấp đầy đủ tồn trữ trong mùa mưa, vì hạn hán vài ba
tháng không có ảnh hưởng vào rừng, ngoại trừ nạn cháy rừng thường xảy ra vào
mùa hạn hán. Tuy nhiên, trên rừng núi cao cảnh quan sẽ thay đổi. Rừng Thông
và Tùng, cần lạnh, sẽ chỉ tồn tại ở ngọn núi cao. Rừng nhiệt đới sẽ từ từ
leo lên núi cao thay thế dần rừng cây ôn đới. Các giống Thông và Tùng, tồn
tại hiện nay ở các đỉnh núi ở Cao Nguyên sẽ bị biến mất, vì nhiệt độ gia
tăng. Các giống Thông-Đà-Lạt (Pinus dalatensis), Tsuga sinensis, Pơ-mu
(Folkienia hodginsii), v.v. ở các đỉnh núi cao trên 2000 m ở Miền Trung hiện
nay có cơ diệt chủng. Số loài Lan (Orchid) của vùng núi cao sẽ bị suy giảm
trong tương lai.
Thú rừng không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ gia tăng. Chim chóc hiện có ở đồng
bằng Cửu Long không bị ảnh hưởng, kể cả các giống thiên di tạm trú trong các
“vườn chim”. Đồng bằng Cửu Long sẽ nhận thêm một số giống chim thiên di đến
từ miền lạnh lẻo. Nhưng các giống chim ở núi cao Miền Trung và Tây Nguyên sẽ
thiên di đến các núi cao ở Miền Bắc, và các giống chim núi cao Miền Bắc sẽ
di chuyển đến Hy Mả Lạp Sơn để sinh tồn.
Hâm nóng hoàn cầu và diễn-biến-di-truyền (evolution)
Trong điều kiện môi trường hiện tại, trung bình 10,000 năm một loài cây đa
niên mới xuất hiện do diễn-biến-di-truyền. Các loài cây trường thọ sống vài
ba trăm năm không có khả năng thích ứng trong môi trường mới thay đổi đột
ngột có thể bị diệt chủng. Ngược lại, các loại thực vật có chu kỳ sinh
trưởng ngắn, như cây hàng niên (annual), dễ đáp ứng với môi trường mới và có
thời gian tái cấu trúc di truyền đáp ứng môi trường mới, nên thời gian tạo
loài mới ngắn hơn. Chẳng hạn, với loài Brassica hoang dại có chu kỳ sinh
trưởng ngắn (3 tháng), chỉ trong vòng 7 năm sống trong môi trường khô hạn đã
tự tạo nhiều biến thể (mutations) mới thích ứng khô hạn. Nhiệt độ gia tăng
cũng làm động và thực vật diễn-biến-di-truyền nhanh hơn, qua hiện tượng biến
thể di truyền (mutation), với vận tốc và số lượng nhiều hơn ở vùng nhiệt
đới. Đó là lý do tại sao vùng nhiệt đới phong phú đa-dạng-sinh-học hơn vùng
ôn đới. Trong một môi trường mới, với thời gian lâu dài, một số loài không
thích ứng sẽ bị tiêu diệt, một số loài có khả năng thích ứng được sẽ tồn
tại, tạo nhiều biến thể mới để thích ứng hơn trong môi trường mới. Một cách
tổng quát, trong thời gian lâu dài, vùng nhiệt đới như VN sẽ phong phú
đa-dạng-sinh-học hơn, mặc dầu hiện tương diệt-chủng-tự-nhiên vẫn xảy ra.
Ngược lại, chính con người có tác động tai hại nhất vào việc diệt chủng
nhiều loài động thực vật và làm nghèo nàn đa-dạng-sinh-học.
Quả địa cầu chúng ta không phải bất biến, đã trải qua không biết bao nhiêu
lần “thương hải tang điền” thời tiết đổi thay. Cách đây trên hàng
10-triệu-năm, quả địa cầu ấm áp, rừng mọc trên hai địa cực. Khoảng 800,000
năm trước đây, địa cầu lạnh dần và băng hà thành lập dày ở hai địa cực, và
cứ mỗi chu kỳ khoảng 100,000 năm, nhiều lần băng hà tiến xuống phía xích đạo
rồi lại triệt thoái về địa cực, tạo cảnh quang thực động vật biến đổi theo
thời gian. Nguồn gốc của biến đổi này là do biến đổi của trục quay địa cầu,
thay đổi quỹ đạo của trái đất đối với mặt trời, do hoả diệm sơn bùng nổ, và
do thay đổi các dòng nước nóng hay lạnh trên đại dương trong thời quá khứ.
Thời kỳ Đại-Băng-Giá gần nhất xảy ra cách đây khoảng 18,000 năm, của thời
Late-Pleistocene, sau đó băng hà triệt thoái dần dần về địa cực, do trái đất
trở nên ấm áp hơn trong thời đại Holocene. Băng hà tan làm nước biển dâng
cao 100m, làm phân chia các đại lục xa cách hơn. Các núi lửa hoạt động làm
gia tăng CO2 và aerosol làm gia tăng nhiệt độ toàn cầu. Các
nghiên cứu về các loại khí bị kẹt trong băng hà thời cổ đại cho biết cách
đây 300 triệu năm lượng CO2 trong không khí cao hơn ngày nay.

Biến đổi nhiệt độ (màu xanh) và lượng khí CO2
trong không khí (màu đỏ) trong thời gian 400,000 năm qua dựa vào nghiên cứu
băng hà ở hai địa cực. Đường thẳng đứng màu đỏ (tận bên mặt) thấy sự biến
đổi đột ngột khí CO2 trong hai thế kỹ vừa qua và trước 2006.
Theo A.V. Fedorov et al. Science 312, 1485 (2006).
Khảo sát hình trên, trong vòng 400 ngàn năm qua, đã có 5 lần
biến đổi nhiệt độ và CO2 . Trong 4 lần cách đây trước 120 ngàn
năm, khi CO2 tăng đến tối đa khoảng 300 ppm, cũng
là lúc có nhiệt độ tối đa, trên dưới 1-2 OC so với nhiệt độ hiện
tại, sau đó CO2 giảm cùng lúc với giảm nhiệt độ đến cực tiểu,
khoảng 8OC thấp hơn hiện tại, và một chu kỳ như vậy kéo dài
khoảng 100 ngàn năm. Đại dương trong quá khứ là môi trường đệm điều hoà CO2
. Khi nhiệt độ giảm đại dương hấp thụ CO2 và biến thành đá
vôi, khí đốt, dầu hoả, và thực vật trên đất liền hấp thụ CO2 qua
lục hoá và tồn trữ qua than đá và chất hữu cơ. Khi nhiệt độ tăng đại dương
thải hồi CO2 vào lại khí quyển. Hiện tại CO2 trong
khí quyển đã đột ngột vượt tới 375 ppm (2006) và đang trên đà gia tăng cao
hơn nữa. Lý do chính của sự đột ngột này là do con người thải CO2
qua kỹ nghệ đốt than đá và dầu hoả trong 2 thế kỹ qua.
Các nghiên cứu chi tiết về phân bố thực vật và động vật ở Bắc Mỹ trong 18
ngàn năm qua cho thấy có một số động thực vật không thích ứng trong điều
kiện môi trường mới đã bị tiêu diệt, đồng thời tạo ra một số động thực vật
mới thích nghi điều kiện mới. Mặc dầu không có chân để di chuyển, thực vật
cũng di chuyển theo khí hậu, khi tiến về phương nam, hay leo lên núi cao;
khi lùi về phương bắc hay triệt thoái xuống lại đồng bằng tuỳ theo khí hậu
nóng lên hay hạ thấp trong quá khứ.
Hiện tượng hâm nóng toàn cầu sẽ làm thay đổi toàn diện nông nghiệp ờ các
vùng ôn đới. Chẳng hạn, California sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng trong ngành
nuôi bò sữa, cây ăn trái, kỹ nghệ làm rượu nho, cây rừng, v.v. Tuy nhiên,
ảnh hưởng của gia tăng CO2 và nhiệt độ (mà thôi) không có ảnh
hưởng xấu nhiều, mà ngược lại có thể tốt hơn, ở các xứ nhiệt đới như Việt
Nam. Tuy nhiên, hậu quả của “hâm nóng toàn cầu”, không phải chỉ ảnh hưởng
của CO2 và gia tăng nhiệt độ, mà là biến đổi nhiệt độ nóng hay
lạnh bất thường, hạn hán, vũ lượng thay đổi làm thay đổi thuỷ văn các dòng
sông, bão tố, lụt lội thường xuyên kéo dài và mãnh liệt hơn, mất đất canh
tác do nước mặn xâm nhập, hiện tượng xoi mòn đất đai và sa mạc hoá (xem Phần
I). Vì vậy, VN cần phải có kế hoạch giảm thiểu hay chận đứng các ảnh hưởng
liên hệ xấu này.
Reading, 15/1/2007
[**]
Hiện tượng El Nino

A: Năm bình thường
a: Indonesia ; b: Australia , c: Nam Mỹ
1: Chiều chuyển động ; 2: Gió thổi sang hướng Tây
; 3: Tích tụ nước nóng : 4: Nước lạnh trồi lên
và thay thế lớp nước nóng
B: Năm El Niño
5: Sự gia tăng dòng đối lưu ; 6: Khi gió yếu hợn, mặt
nước nóng lan qua hướng đông ; 7: Gió yếu
; 8: Những dòng nước nóng thay thế nước lạnh và tạo một lớp nước nóng
phía dưới sâu, dọc theo bờ
Tài liệu chính tham khảo
Anonymous. 2005. Global warming and Vietnam.
http://www.tiempocyberclimate.org/portal/archive/vietnam/preface.htm
IPCC. 1996: Climate change 1995: The Science of Climate Change.
Contribution of Working Group I to the Second Assessment Report of the
Intergovernmental Panel on Climate Change [J.T. Houghton, L.G. Meira Filho,
B.A. Callander, N. Harris, A. Kattenberg and K Maskell (eds.)], Cambridge
University Press, Cambridge, 572 pp.
Ministry of Agriculture and Rural Development
of Vietnam. 2002. United Nations Convention to combat desertification.
Vietnam Action Programme to combat desertification.
Schaefer, Dirk. 2003. German Vietnam Seminar.
Hanoi, October 27-30, 2003.
Snidvongs A, Choowaew S, Chinvanno S. 2003.
Southeast Asia START Regional Center Report No 12.
Whetton, P.1994. Constructing climate
scenarios: the practice. In: Climate Impact Assessment Methods for Asia and
the Pacific [Jakeman AT and AB Pittock (eds)]. Proceedings of a regional
symposium, Australian International Development Assistance Bureau, 10-12
March 1993, Canberra, Australia, pp 21-27.
Dr Trần-Đăng Hồng
The University of Reading, Reading, UK