Với diện tích gần 40 nghìn km2, hằng năm
được phù sa sông Mê Công bồi đắp, đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) là vựa
lúa, vựa cây ăn quả, vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước.
Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành T.Ư (khóa X) về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn, các tỉnh trong khu vực ÐBSCL đang phát huy lợi thế,
nỗ lực xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền
vững.
Thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long.
Thành tựu bước đầu
ÐBSCL là vùng đất màu
mỡ, mưa nắng thuận hòa, thích hợp không chỉ với cây lúa mà còn nhiều
loại cây ăn quả nhiệt đới khác. Có mạng lưới giao thông thủy, bộ thuận
tiện, là vùng sản xuất hàng hóa lớn, đồng thời là địa bàn trung chuyển,
giao lưu hàng hóa giữa TP Hồ Chí Minh với các tỉnh khác trong vùng. Hàng
trăm nghìn ha đất phù sa, mặt nước, bãi bồi và hàng trăm km bờ biển
được các tỉnh phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi
trồng thủy sản. Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa chiếm vị trí hàng
đầu ÐBSCL. Tại Long An, diện tích gieo trồng lúa năm 2010 đạt 471 nghìn
ha, năng suất bình quân gần 5 tấn/ha/vụ, sản lượng lương thực đạt hơn
2,3 triệu tấn. Cùng với cây lúa, các loại cây khác, như mía, đậu phộng,
rau, đậu các loại,... cũng được gieo trồng tập trung tại những vùng
chuyên canh hàng hóa. Riêng cây mía, với diện tích gần 13 nghìn ha, sản
lượng hằng năm đạt gần 900 nghìn tấn. Sản lượng thanh long gần 40 nghìn
tấn/năm, chanh quả gần 100 nghìn tấn/năm... Tại Tiền Giang, diện tích
gieo sạ lúa hằng năm từ 230 nghìn đến 235 nghìn ha, sản lượng lương thực
nhiều năm nay luôn giữ mức ổn định từ 1,2 đến 1,3 triệu tấn/năm. Ngoài
cây lúa, Tiền Giang còn phát triển mạnh cây ăn quả, cả về diện tích,
chủng loại. Năm 1990, cả tỉnh chỉ có 24 nghìn 500 ha thì đến năm 2010,
diện tích trồng cây ăn quả đã lên đến gần 70 nghìn ha, mỗi năm cho thu
hoạch gần một triệu tấn quả các loại.
Khó khăn, thách thức
Trong
những năm gần đây, tại các tỉnh ÐBSCL ngành nông nghiệp và nông dân
luôn bức xúc vì giá vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp không ổn định,
biến động tăng cao ở các vụ mùa. Bên cạnh đó, tình trạng 'được mùa mất
giá' xảy ra hằng năm làm ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập, đời sống của
nông dân. Phần lớn nông dân Nam Bộ bán lúa tươi cho thương lái tại ruộng
ngay sau khi thu hoạch. Thói quen tích trữ lúa của nông dân hầu như
không còn. Nhiều hộ nông dân ở Tiền Giang, Long An, Ðồng Tháp, An
Giang... thậm chí bán hết lúa, rồi mua gạo ăn từng ngày. Hình ảnh những
chiếc máy xay xát lưu động xay lúa cho bà con trong các xóm ấp ngày nào
giờ không còn. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục
Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tình trạng nông
dân bán lúa tươi tại ruộng có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân
chủ yếu là áp lực phải trả nợ mua chịu phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật... trong cả mùa vụ. Mặt khác, diện tích ruộng bình quân của mỗi hộ
nông dân không nhiều, chỉ từ 5.000 đến 7.000 m2. Ngoài ra, thiên tai,
dịch bệnh thường xuyên xảy ra cũng là những khó khăn lớn trong sản xuất
nông nghiệp của toàn vùng. Tại tỉnh Bến Tre, tuy hệ thống thủy lợi đã
được quan tâm đầu tư, nhưng nhìn chung vẫn chưa đồng bộ, tiến độ thi
công một số công trình chậm, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân
dân. Bên cạnh đó, việc cung ứng giống chất lượng cao, nhất là giống cho
nuôi thủy sản thâm canh, vẫn chưa đáp ứng đủ. Tình trạng phát triển tự
phát, không theo quy hoạch khá phổ biến, nông dân chưa chú trọng bảo vệ
môi trường.
Việc sản xuất cây ăn quả ở ÐBSCL cũng trong hoàn cảnh
tương tự. Tại Tiền Giang, vùng sản xuất trái cây lớn nhất Nam Bộ, nhà
vườn, khi thu hoạch, dù sản lượng lớn cũng chỉ có phuơng tiện hết sức
thô sơ, phần nhiều là trèo lên cây, hái quả. Phân loại chất lượng cũng
theo kinh nghiệm, cảm tính. Phương tiện, thu hái vận chuyển đến nay vẫn
không có gì khác ngoài cây cù nèo và những giỏ cần xé. Về tiêu thụ, dù
đã có một số hợp tác xã (HTX) hoặc một vài doanh nghiệp ký kết hợp đồng
tiêu thụ với nông dân, nhưng số lượng không nhiều cho nên hầu hết trái
cây trong vùng đều tiêu thụ thông qua các chợ đầu mối. Trong thanh toán,
các nhà vườn đều chung một phương thức giao hàng xong, nhận tiền mặt.
Những điều trên cho thấy, nhìn chung người sản xuất (nhà vườn) vẫn đơn
độc và sản phẩm của họ làm ra luôn bấp bênh theo thị trường. Trái cây là
loại sản phẩm thu hoạch theo mùa, rộ lên dăm bữa, nửa tháng là xong.
Lợi dụng đặc điểm này, không ít thương lái ép giá nhà vườn khiến tình
trạng 'được mùa rớt giá' liên tục tái diễn. Ông Võ Văn Tâm, một chủ vườn
ở xã Hữu Ðạo, huyện Châu Thành (Tiền Giang) cho biết: 'Ðầu vụ, vú sữa
Lò Rèn có giá hơn 400 nghìn đồng/chục (12 quả). Khi vào chính vụ chỉ còn
trên dưới 100 nghìn đồng/chục'. Hoặc như quả thanh long, giá lúc lên
cao 12 nghìn đồng/kg, nhưng khi xuống thấp chỉ còn vài nghìn đồng/kg.
Không có nơi tiêu thụ ổn định, nhà vườn luôn là người chịu thiệt. Thậm
chí, nhiều loại trái cây đặc sản đã khẳng định thương hiệu, có HTX tiêu
thụ nhưng cũng phải chờ thương lái đến mua.
Thời gian qua, một số
HTX sản xuất, tiêu thụ trái cây đã xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái
đặc sản. Thế nhưng đến nay, nhìn chung các HTX vẫn đang loay hoay tìm
đầu ra cho sản phẩm. HTX Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim là một thí dụ. Từ lâu,
thương hiệu Vú sữa Lò Rèn được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước
biết đến. Năm 2008, gần bảy ha vú sữa Lò Rèn trong HTX được chứng nhận
GlobalGAP (chứng nhận quy trình sản xuất an toàn toàn cầu), năm 2010 mở
rộng đạt 50 ha nhưng vú sữa Lò Rèn tiêu thụ vẫn khó khăn, nhiều sản phẩm
bán trôi nổi trên thị trường. Chủ nhiệm HTX Nguyễn Văn Ngàn, bức xúc:
'Vụ vú sữa vừa qua, HTX chỉ tiêu thụ được vài tấn, trong khi sản lượng
đạt tiêu chuẩn GlobalGAP hơn 150 tấn'. Hoặc như HTX thanh long Chợ Gạo,
cũng có nhiều doanh nghiệp đến tìm hiểu nhưng không ký được hợp đồng
tiêu thụ nào, xã viên đành bán cho thương lái. Xoài cát Hòa Lộc, sản
phảm có thương hiệu cũng rơi vào tình trạng như thế.
Ðể xảy ra
tình trạng trên, trước hết là do các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu
nông sản chưa thật sự gắn bó với nông dân, với vùng nguyên liệu. Quy mô
sản xuất, khả năng cạnh tranh, còn khiêm tốn. Các công ty và doanh
nghiệp thu mua, chế biến rau quả còn ít. Toàn vùng ÐBSCL chỉ có bảy công
ty và doanh nghiệp lớn thu mua chế biến rau quả, khó tiêu thụ hết lượng
trái cây khi vụ thu hoạch rộ.
Ðể khắc phục tình trạng trên,
ngành nông nghiệp tỉnh Tiền Giang đang định hướng phát triển sản xuất
gắn với thị trường, hình thành ổn định các vùng nguyên liệu, phấn đấu
đến năm 2015 có 90 nghìn ha cây đặc sản đạt sản luợng 900 nghìn tấn; và
đạt 100 nghìn ha, sản lượng một triệu tấn vào năm 2020. Cùng với tăng
diện tích là tổ chức lại sản xuất theo hình thức doanh nghiệp cổ phần,
HTX, đưa nhanh quy trình GAP (quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt) vào sản xuất rau, quả, có sự tham gia của các doanh nghiệp.
Trong
chiến lược phát triển nông nghiệp, trước mắt tỉnh Bến Tre tập trung
hoàn chỉnh quy hoạch ngành nông nghiệp. Theo đó, về trồng trọt, tập
trung xây dựng mô hình canh tác kỹ thuật cao, đưa Chợ Lách trở thành
trung tâm cung ứng giống cây ăn trái chất lượng cao cho thị trường trong
tỉnh và ngoài tỉnh. Xây dựng vùng chuyên canh hoa, cây cảnh tại Chợ
Lách, Mỏ Cày Bắc, quy hoạch 40 nghìn ha vùng nuôi thủy sản chuyên canh;
phấn đấu đưa diện tích trồng dừa, dừa xen ca-cao đến năm 2015 đạt 20
nghìn ha...
Liên kết 'bốn nhà' để phát triển bền vững
Những
năm gần đây, Chương trình 'Liên kết bốn nhà' được nhiều đơn vị, địa
phương áp dụng thành công, cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao. Từ vụ
đông xuân 2006, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) triển
khai Chuơng trình 'Cùng nông dân ra đồng' tại nhiều tỉnh ÐBSCL. Không
chỉ cung ứng vật tư nông nghiệp, AGPPS cử những kỹ sư nông nghiệp trẻ,
tâm huyết về nông thôn, bám trụ cùng nông dân, hướng dẫn bà con thực
hiện nhiều quy trình canh tác tiến bộ như 'ba giảm, ba tăng', 'bốn đúng,
bốn đủ', bón phân theo bảng màu lá lúa..., và mới nhất là quy trình
'một phải năm giảm'. Theo đó, nông dân phải dùng giống lúa xác định
nguồn gốc, thuần chủng, bảo đảm chất lượng (một phải). 'Năm giảm' là
giảm giống, giảm nước (theo từng thời điểm), giảm phân bón, giảm thuốc
bảo vệ thực vật trong suốt quá trình canh tác và giảm thất thoát sau thu
hoạch. Với quy trình này, ngoài việc giảm lượng thóc giống tới gần 50%,
các loại vật tư nông nghiệp khác như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật, nước tưới cũng giảm từ 20 đến 30% so với trước, trong khi năng suất
lại tăng thêm từ 15 đến 20%. Giảm chi phí, tăng năng suất, lợi nhuận
thu về của nông dân tăng rõ rệt. Tại ấp Hương Trang, xã Bình Hòa Trung,
huyện Mộc Hóa (tỉnh Long An) là vùng thực hiện liên kết 'bốn nhà'. Sau
vụ đông xuân 2009 - 2010, nông dân Võ Công Tấn cho biết, với diện tích
4,5 ha, sản lượng 40 tấn, trừ hết chi phí còn lãi gần 67 triệu đồng. Một
điển hình khác của Chương trình 'Liên kết bốn nhà' là tại ấp Cầu Tre,
xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần (Trà Vinh). Nông dân trong ấp phần lớn là
đồng bào dân tộc Khmer, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất cao nhất
cũng chỉ đạt 3,5 tấn/ha, lại thường xuyên mất mùa do thiên tai, dịch
bệnh... Vụ hè thu năm 2007, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh
phối hợp Chi cục Bảo vệ thực vật, UBND huyện Tiểu Cần, UBND xã Phú Cần
và AGPPS triển khai Chương trình 'Cùng nông dân ra đồng'. Ngay vụ thu
hoạch đầu tiên, cánh đồng 110 ha của mô hình đã cho thấy hiệu quả vượt
trội, năng suất đạt 5,8 tấn/ha, lợi nhuận thu về trên một ha diện tích
cao hơn so trước 5,3 triệu đồng. Ðến nay, qua 10 vụ sản xuất, sản lượng
thóc tăng thêm so với trước hơn 803 tấn, lợi nhuận của nông dân tăng
thêm 5 tỷ 460 triệu đồng. Số hộ nghèo trong ấp giảm mỗi năm 34%, nhiều
hộ nông dân vươn lên thành hộ giàu. Giám đốc AGPPS Huỳnh Văn Thòn cho
biết, tính đến nay, toàn vùng đã có gần 1.500 điểm, 45 mô hình 'Liên kết
bốn nhà'. Mô hình 'Cùng nông dân ra đồng' đã thu hút 3.000 hộ nông dân
tham gia trên diện tích hơn 3.200 ha. Việc xây dựng thành công mô hình
liên kết 'bốn nhà' của AGPPS đã mở hướng đi mới cho nhiều vùng chuyên
canh nông sản ở ÐBSCL.
Dù còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt
qua, nhưng với tinh thần và quyết tâm cao của Ðảng, Nhà nước, sự đồng
thuận, nỗ lực của chính người nông dân, nông nghiệp ÐBSCL đang ngày càng
phát triển theo hướng bền vững, góp phần thúc đẩy CNH, HÐH đất nước.
Xuân Hùng, Tấn Vũ và Quang Nhung
Nguồn: nhandan.com.vn