Ông Vịnh cho biết, trên thế giới có 2 loại gạo chất
lượng cao, đó là gạo hạt dài thuộc loài phụ Indica, được sản xuất ở các
nước nhiệt đới và loại hạt tròn thuộc loài phụ Japonica, sản xuất chủ
yếu ở vùng lạnh. Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa Japonica tròn,
cơm dẻo do có hàm lượng amylose thấp hơn và có chứa amylopectin. Một số
giống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong
hạt khá cao.

Lúa Japonica là loại hình thấp cây đến trung bình,
chống đổ tốt, chịu thâm canh, chịu lạnh khoẻ, có khả năng chống chịu
nhiều loại sâu bệnh và có thời gian sinh trưởng từ ngắn đến trung bình.
Ưu điểm của lúa Japonica là khả năng chịu lạnh, sinh trưởng ở nhiệt độ
thấp xung quanh 15 độ C, tuy nhiên nhiệt độ xuống tới 11 độ C ở giai
đoạn trỗ bông sẽ gây hại nặng. Lúa Japonica thường thích hợp với vùng
trồng có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới và vùng cao nhiệt đới. Các nước
trồng lúa Japonica chủ yếu tập trung ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc... trải dài tới Trung cận đông như Ai Cập, Ma-rốc, Thổ Nhĩ
Kỳ.
Theo thống kê của FAO từ năm 1982 - 1994 diện tích
trồng lúa Japonica trên thế giới thay đổi không nhiều, nhưng sản lượng
lúa tăng 16,6%; chủ yếu nhờ vào tăng năng suất trung bình đạt từ 5
- 5,8 tấn/ha. Tổng sản lượng lúa Japonica trên thế giới chỉ khoảng 100
triệu tấn trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% tổng diện
tích trồng lúa thế giới. Nhưng tình hình sản suất lúa Japonica trên thế
giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúa Japonica đã lên
tới 20% diện tích trồng lúa toàn cầu.
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa
Japonica với tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật Bản
2,1 triệu ha... Diện tích trồng lúa Japonica ở Trung Quốc đã tăng hơn 2
lần trong vòng hai chục năm qua, giá lúa Japonica cũng tăng hơn 2 lần.
Chính sách đã có tác động tới thay đổi cơ cấu giống của TQ như một số
tỉnh trước đây chủ yếu sản xuất lúa Indica đã thay bằng các giống
Japonica, có tỉnh đã nâng diện tích Japonica lên khoảng 80%. TQ xuất
khẩu chủ yếu gạo Japonica sang Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.
Theo GS Nguyễn Văn Luật, vào thập niên 90, Viện lúa
ĐBSCL đã hợp tác với Viện JIRCAS của Nhật Bản nghiên cứu khảo nghiệm
các giống lúa Japonica do các nhà khoa học Nhật mang sang. Tại phía
Bắc, Viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp hợp tác với Nhật Bản
trồng thử Japhonica ở Thái Bình và một số địa phương khác. Đồng thời DN
của Nhật cũng hợp tác với tỉnh An Giang trồng thử nghiệm các giống lúa
hạt tròn Japonica. Tại An Giang trong chương trình trồng thử nghiệm
giống lúa Japonica hạt tròn, năng suất có thể đạt 8 - 8,5 tấn/ha. Hưng
Yên và Thái Bình trong điều kiện vụ xuân giống lúa Japonica có tên
ĐS1 đã đạt năng suất 3 tạ/sào (8,1 tấn/ha).
Những năm qua, Viện Di truyền NN phối hợp với các
địa phương khảo nghiệm khoảng 50 giống lúa Japonica khác nhau ở các
tỉnh phía Bắc. Trong đó, giống lúa Japonica ĐS1 được chọn tạo và nhân
giống từ năm 2001, cho năng suất cao, chất lượng tốt, đã được Bộ NN -
PTNT công nhận là giống tạm thời. Hiện tại giống ĐS1 đang được mở rộng
sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc. Giống
ĐS1 trồng được cả hai vụ, thời gian sinh trưởng trung bình, năng suất
vụ xuân đạt trung bình 7-8 tấn/ha, và có nhiều ưu điểm như cứng cây,
chịu rét tốt, ít bị sâu bệnh...
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Hoà Bình, lúa ĐS1 càng
lên vùng cao lạnh hơn càng biểu hiện năng suất cao hơn, một số HTX đạt
trên 10 tấn/ha. Giá lúa ĐS1 vụ ĐX 2009 nông dân bán ra 7.000đ/kg, tăng
gấp 2 lần so với giống Khang dân, trong khi năng suất ĐS1 lại cao hơn.
Theo thông báo của Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tại Định Hóa - Thái
Nguyên, năng suất lúa ĐS1 đạt trung bình 7,2 tấn/ha; tại Sơn Dương,
Tuyên Quang đạt 7,8 tấn/ha; tại Chi Lăng, Lạng Sơn đạt 7,3 tấn/ha. Giá
gạo Japonica tại địa phương cao hơn so với các giống khác từ 2.500 -
3.000đ/kg. Chất lượng gạo ngon, dẻo được bà con các dân tộc vùng cao
rất ưa thích. Ngoài ra, Viện DTNN đang tiếp tục khảo nghiệm và chọn tạo
hàng chục giống Japonica khác, nhân nhanh một số giống có thời gian
sinh trưởng từ rất ngắn, ngắn, đến trung bình. Như giống J02 có thời
gian sinh trưởng vụ mùa 100-105 ngày, tiềm năng năng suất cao, gạo
ngon, có thể tham gia cơ cấu mùa sớm kịp thời vụ sản xuất vụ đông.
PGS-TS Đỗ Năng Vịnh cho biết, Viện sẽ tiếp tục phối
hợp với các địa phương miền núi đẩy diện tích sản xuất lúa Japonica lên
10 - 20%, sản lượng chiếm 12 - 24%. Dự kiến sẽ đưa kỹ thuật gieo thẳng
vào sản xuất và đưa vụ đông xuân lên sớm hơn nhờ đặc tính chịu lạnh,
khai thác các giống có thời gian sinh trưởng ngắn hơn và phát triển sản
xuất vụ mùa bảo đảm sản xuất được 2 vụ lúa có năng suất cao và hiệu quả
kinh tế cao, chất lượng gạo cao hơn so với các giống Indica ở cùng khu
vực. Khai thác thêm một vụ đông giữa 2 vụ lúa ở một số địa bàn. Gạo
Japonica sản xuất ở miền núi, đặc biệt gạo hữu cơ, có thể phục vụ xuất
khẩu. Đồng bào các dân tộc chắc chắn sẽ chào đón các giống Japonica
vì bản thân họ vốn quen ăn gạo dẻo...